• KHÚC HÁT QUÊ TÔI

  • GIẬN MÀ THƯƠNG

  • TẶNG VỢ YÊU !

  • H.CƯỚI ĐỨC-TẶNG

  • HÌNH ẢNH BOBO

  • KH. HÁT SÔNG QUÊ

  • Categories

  • Trao đổi trực tuyến với Hồng Sinh tại đây !

  • Bạn thích và muốn tự học môn Khiêu vũ hãy bấm vào đây!

  • Tìm hiểu dịch vụ do Hồng Sinh cung cấp bấm vào đây !

  • Bài viết mới

  • Hình ảnh thị xã Cao Bằng bị quân Trung Quốc bắn phá tan hoang do nhiếp ảnh gia Trần Mạnh Thường ghi lại. Khi đó, ông là cán bộ phòng biên tập ảnh của Nhà xuất bản Văn hóa được tăng cường lên biên giới phía Bắc cuối năm 1978. Từ lúc chiến sự xảy ra đến đầu tháng 3/1979, ông theo chân công an vũ trang đi khắp chiến trường Cao Bằng, ghi lại những hình ảnh chân thực của cuộc chiến 38 năm trước bằng một chiếc máy ảnh và 20 cuộn phim.

  • Cô bộ đội bế bé gái theo mẹ đi tản cư tại chân cầu Tài Hồ Sìn (Hòa An, Cao Bằng). Mẹ của bé trúng đạn quân Trung Quốc bị thương nặng, được bộ đội đưa về tuyến sau. "Tình hình khi ấy rất khẩn trương, ai cũng hoang mang vì không nghĩ Trung Quốc lại đưa quân tràn qua bắn phá", ông Thường kể.

ĐÁ VÀ MÁU – QUỲ CHÂU VÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA “ĐẾ CHẾ ĐÁ ĐỎ” …

         Hongsinh:  Chiều nay, nhận được tin một người bạn cùng thời đi học đã qua đời tại quê nhà. Nguyên nhân được cho là bị “xuông đòn” từ thời còn đi đào đá đỏ…

      Quê tôi chỉ cách thủ phủ đá đỏ Quỳ Châu khoảng dăm chục km. Trong những năm sốt đá đỏ ở đây, không ít bạn bè cùng trang lứa đã dấn thân vào miền đất chết này. Cũng có người nhờ đó mà giàu lên nhanh chóng, cũng có người vì nó mà bỏ mạng, tán gia bại sản hoặc bệnh tật suốt đời…

       Cứ mỗi lần về quê, tôi vẫn thường được nghe kể lại vài ba câu chuyện về những ngày đi đào đá đỏ, nhưng vẫn không thể hình dung được hết tính chất khốc liệt của nó…

      Mấy chục năm đã trôi qua mà hậu quả của nó còn đeo đuổi số phận con người tới tận bây giờ…

       Lại lang thang vào mạng, tìm hiểu về Quỳ Châu – thủ phủ một thời đá đỏ…

   Sau đây là loạt bài của tác giả Hoàng Sang – Quốc Huy đăng trên báo vietnamnet

 1

 

Kỳ 1: ĐẾ CHẾ ĐÁ ĐỎ VÀ NHỮNG TRẬN HUYẾT CHIẾN

        Một dạo Quỳ Châu lên cơn sốt. Sốt đá đỏ. Cơn sốt thật khủng khiếp. Người ta rỉ tai nhau về ai đó vừa trúng được viên đá đỏ giá cả trăm triệu đồng ở đồi Triệu.

Lại có tin, một thanh niên trúng viên rubi hàng tỷ đồng trên đồi Tỷ. Đá đỏ ở Quỳ Châu nhiều đến nỗi có cậu bé chăn trâu rỗi việc bới lại những đám đất mà cửu vạn hất lên cũng kiếm được viên đá cả chục triệu đồng.

Thời đó, có hàng vạn người đổ xô về Quỳ Châu để tìm vận may. Hàng trăm người bỏ mạng nơi rừng thiêng nước độc. Không có một con số thống kê chính xác có bao nhiêu người đổ về đây đào đá đỏ, cũng không có một tài liệu nào ghi lại con số những người bỏ xác khi đi tìm cho mình giấc mộng đổi đời.

Người ta chỉ ví von, rằng đêm đêm, những ngọn đèn dầu thắp sáng trong các lán của phu đào đá đỏ còn ‘nhiều hơn cả sao trên trời’.  

Còn số người chết, nói như Thượng tá Nguyễn Cảnh Chanh – Phó trưởng phòng CS 113 Công an tỉnh Nghệ An: “Chẳng ai đếm xuể. Ngày nào chẳng có người bị thiệt mạng do sập hầm hoặc do tranh dành lãnh địa. Người chết, họ lấy xác rồi đưa về an táng trong đêm, chẳng thèm báo cho công an”.

Dường như, thời kỳ đó, mạng người rẻ rúng lắm.

Thi thoảng lại có tiếng súng xé tan màn đêm đặc quánh. Một cái siết cò, người ta nghĩ ngay đến một mạng sống vừa bị cướp đi.

Một tiếng khóc hờ trong đêm, người ta nghĩ ngay đến hầm nọ, hầm kia vừa bị sập. Mà những tiếng khóc đó, cũng hiếm lắm, hiếm như viên đá đỏ vẫn mãi trốn sâu trong lòng đất để thách thức lòng tham của con người.  

Tiếp tục đọc

Advertisements

NGÀY TÀN CỦA TÊN TƯỚNG CƯỚP XUẤT QUỶ NHẬP THẦN –DŨNG CHIM XANH

Nguồn: trandaiquang.net

 

            Dù nổi tiếng trong giới giang hồ về sự tàn bạo nhưng Dũng “chim xanh” có một cuộc sống đời thường rất bình lặng và giản dị. Tài sản lớn cướp được, Dũng không bao giờ tiêu xài hoang phí để tránh gây sự chú ý.

              Thậm chí Dũng còn là một người chồng, người cha rất mực thương yêu vợ con. Cái vỏ bọc hoàn hảo đó cùng với sự liều lĩnh ma mãnh khi đối đầu với công an đã giúp Dũng lọt lưới trong thời gian dài. Thế nhưng, lưới trời lồng lộng, tướng cướp khét tiếng cuối cùng vẫn sa lưới pháp luật.

Xuất quỷ nhập thần

Sau khi băng cướp của Dũng “chim xanh” làm mưa làm gió, gieo rắc kinh hoàng cho người dân trên khu vực rộng lớn, thông tin về hắn ngày càng lan truyền, khiến người dân nơm nớp lo sợ.

 Họa sĩ Võ Tấn Thành (trái) và đại tá Phạm Ngọc Hiền - Phó viện trưởng Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an

Họa sĩ Võ Tấn Thành (trái) và đại tá Phạm Ngọc Hiền – Phó viện trưởng Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an

Tình hình trở nên phức tạp, Bộ Công an phải trực tiếp vào cuộc lập chuyên án mang bí số 501 CS. Tướng Nguyễn Việt Thành cùng ban chỉ đạo chuyên án đặt ra mục tiêu phấn đấu phá án chậm nhất là cuối tháng 7.2001, nên ngoài lực lượng trinh sát, điều tra, các lực lượng khác như cảnh sát bảo vệ, cảnh sát giao thông, công an huyện, công an xã… đồng loạt vào trận với quyết tâm rất cao, truy tìm đối tượng ở mọi ngõ ngách và tăng cường tuần tra kiểm soát nhằm phát hiện, bắt giữ hoặc tiêu diệt đối tượng. Thế nhưng, mọi cố gắng không mang lại kết quả. Tung tích của Dũng vẫn bặt tăm chim cá.

Khuya ngày 4.6.2001, khi đang chạy xe máy tuần tra trên đoạn quốc lộ 56 địa phận xã Xuân Thanh, huyện Long Khánh, hai trinh sát của Phòng CSHS Công an tỉnh Đồng Nai là Trần Văn Toàn và Hà Thanh Tuyên phát hiện có một chiếc xe tải đậu bên đường. Sau chiếc xe tải này có dựng một chiếc xe Dream và bên hông trái xe tải có một thanh niên đang đứng. 

Tiếp tục đọc

TIÊU DIỆT TÊN CƯỚP KHÉT TIẾNG: SÁU THẸO

Bút ký người điều tra:

Tiêu diệt tên cướp khét tiếng Sáu Thẹo

Nguồncongan.com.vn

             Với khẩu súng AK luôn đầy đạn, hắn bắn chết một phụ nữ, hãm hiếp hàng chục cô gái và có tài xuất quỷ nhập thần bất cứ nhà nào để trộm cướp tài sản. Sau khi bị lực lượng công an còng tay, hắn bị kết án tử hình. Trong khi chờ ngày thi hành án, hắn đã cùng tên tử tội khác khoét hầm buồng giam trốn thoát, tiếp tục gieo kinh hoàng cho người dân. Các lực lượng công an, quân đội đã tốn bao công sức truy bắt nhưng nhiều cuộc bao vây truy lùng đều thất bại. Nhưng cuối cùng hắn đã bị các tay súng thiện xạ của Công an Tây Ninh tiêu diệt.

TRUY QUÉT TÀN QUÂN PHẢN ĐỘNG

Trong những năm đầu giải phóng, tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội ở các tỉnh miền Nam nói chung, Tây Ninh nói riêng khá phức tạp. Các đảng phái phản động nổi lên hoạt động chống phá chính quyền ở nhiều nơi. Các lực lượng vũ trang Tây Ninh và Công an Tây Ninh phải vượt qua bao khó khăn gian khổ để bảo vệ chính quyền còn non trẻ, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Đến khoảng năm 1979 -1980 thì các tổ chức đảng phái phản động đã bị tiêu diệt, phá rã hầu hết, chỉ còn lại một ít tàn quân sống vất vưởng ở vùng rừng núi, sông hồ, đêm đêm đi cướp bóc tài sản, đe dọa tống tiền. Thêm vào đó, bọn tội phạm hình sự cũng nổi lên tổ chức nhiều băng nhóm trộm cướp, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân. Để giải quyết dứt điểm tình hình này, lãnh đạo Ty Công an Tây Ninh quyết định thành lập lực lượng đặc nhiệm với quân số lên đến cấp đại đội, được trang bị các loại súng, máy truyền tin PRC25, thực hiện nhiều biện pháp truy quét bọn tội phạm nguy hiểm này. Địa bàn chúng hoạt động trải dài từ khu vực Núi Cô, Núi Cậu, lòng hồ Dầu Tiếng xuống đến Bến Củi (Dương Minh Châu), Bà Nhã (Trảng Bàng), men theo vùng sông Sài Gòn và rừng rậm ở khu vực này. 


Khu vực lòng hồ – nơi Sáu thẹo hoành hành

Tiếp tục đọc

KÝ ỨC VỀ LỰC LƯỢNG SBC HUYỀN THOẠI

          

Ký ức về lực lượng SBC huyền thoại

               Họ đã xả thân, ôm những em nhỏ và hứng chịu mảnh lựu đạn của bọn cướp để em bé được an toàn. Giải quyết xong bọn cướp trên đường, họ biến mất. Người dân TP vui mừng, tự tin, trầm trồ: “Những trinh sát SBC đấy!”…

Sau khi thống nhất đất nước, TP.HCM phải thừa hưởng một “di sản” nặng nề là những băng nhóm giang hồ, trộm cướp tồn tại từ lâu trên đất Sài Gòn.

Nguy hiểm hơn là nhiều tên khét tiếng bị tù ở Côn Đảo, các nhà lao của cảnh sát chế độ cũ cũng được “giải phóng” ra ngoài.

Một lực lượng hùng hậu nữa gia nhập thế giới tội phạm là một số sĩ quan, binh lính chế độ cũ trốn tránh, ẩn nấp chuyển thành tội phạm, gây nên những vụ án chấn động cả nước như sát hại gia đình nghệ sĩ Thanh Nga, bắt cóc tống tiền con trai nghệ sĩ Kim Cương…

Sau thời gian nằm im nghe ngóng, dò xét, từ năm 1977, bọn chúng lại tung hoành ngang dọc, gây ra nhiều vụ trộm cướp. Chúng lộng hành tới mức, vụ dùng súng bắn lại lực lượng công an, tấn công cả bộ đội!

Ở các quận nội thành, công an phải có mặt 24/24 khắp các tuyến đường, khu dân cư. Song bọn tội phạm vẫn lộng hành. Máu của người dân và các chiến sĩ công an phải đổ xuống trên nhiều nẻo đường. Nhân dân hoang mang, lo sợ…

40 phút xảy một vụ cướp!

Chỉ trong thời gian 3 năm, từ 1975 đến 1978, đã xảy ra 45.000 vụ phạm pháp hình sự! Trong đó, 1.400 vụ cướp lớn.

Gần 170 người vô tội bị bắn chết, 200 người bị thương. Tài sản bị cướp theo ghi nhận của công an, gồm 1.200 lượng vàng, 70 viên kim cương, 15 xe ô tô, 370 xe máy, 460 đồng hồ.

Honda 67 xoáy nòng, ngựa sắt của các chiến sĩ SBC

Honda 67 xoáy nòng, ngựa sắt của các chiến sĩ SBC

Tính bình quân trên địa bàn thành phố, cứ 40 phút lại xảy ra một vụ cướp! Một con số kỷ lục về tội phạm trong lịch sử nước ta, kể cả thế giới!

Khét tiếng trong thời điểm này là băng cướp do tên Võ Tùng Hội cầm đầu. Chúng có 33 tên được trang bị 14 khẩu súng, 3 ô tô, 20 xe máy. Chúng đã gây ra 100 vụ cướp, bắn chết 2 người, bắn bị thương 3 người.

Một băng khác do tên Lê Nghĩa cầm đầu còn tàn ác hơn. Chúng dùng súng bắn như vãi đạn giết sạch cả một gia đình nạn nhân.

Trong vòng một tháng chúng giết hại 13 người dân. Băng cướp này dùng tiền, vàng và tài sản cướp được tiêu xài và đầu tư mở…lò bánh mì, y như “mô hình” của maphia ở Ý và Mỹ. Dùng tiền của ăn cướp đầu tư và sản xuất kinh doanh để vừa rửa tiền, vừa có “hậu phương” vững chắc nuôi quân, phòng ngừa bất trắc…

Những chiến sĩ SBC thưở ấy còn nhớ: “Hàng nóng” của bọn cướp còn “xịn” hơn cả công an. Chúng dùng col 45, ru lô nòng ngắn nhỏ gọn nhưng uy lực sát thương cao. Đi gây án chúng vác theo cả bao đạn, lựu đạn. Khi cần chống trả, chúng bắn như vãi đạn, không xót của…”.

Trung tá Phạm Thế Thịnh, nay là lãnh đạo phòng cảnh sát giao thông TP, nguyên chiến sĩ công an trong lực lượng SBC thưở ấy bồi hồi nhớ lại: “Việc bắn nhau với bọn cướp xảy ra như cơm bữa. Anh em chúng tôi phải nằm rạp xuống đất để tránh lựu đạn của bọn chúng là chuyện thường ngày… Nói chung, công tác ở đội SBC lúc ấy phải chấp nhận luôn cận kề với cái chết”…

Ra đời lực lượng trinh sát săn bắt cướp – SBC!

Cần phải có một lực lượng tinh nhuệ chống cướp giật”, đó là mục tiêu được thống nhất cao trong các cuộc họp của lãnh đạo Công an TP.HCM.

Tháng 3/1978, 5 đội SBC ra đời thuộc phòng cảnh sát hình sự Công an TP và Công an quận 1 gồm 72 chiến sĩ được tuyển chọn trong toàn bộ lực lượng Công an.

Trước đó, Công an quận 5 do trung tá Trịnh Thanh Thiệp (sau này là thiếu tướng) làm trưởng phòng đã thành lập đội “săn bắt cướp” hoạt động mạnh mẽ để đối phó với những diễn biến tội phạm nguy hiểm trên địa bàn quận.

Lực lượng SBC chụp ảnh với ông Mai Chí Thọ, Giám đốc CA.TPHCM lúc bấy giờ.

Lực lượng SBC chụp ảnh với ông Mai Chí Thọ, Giám đốc CA.TPHCM lúc bấy giờ.

Lực lượng này được “nhập” vào “binh chủng” SBC của thành phố. Và người đi tiên phong, thiếu tá Trịnh Thanh Thiệp, lúc này là trưởng phòng cảnh sát hình sự thành phố, phụ trách “binh chủng” SBC mới tinh này.

Đội trưởng SBC là đại úy Phan Thanh, tức Ba Tung, một trinh sát biệt động nội thành nổi tiếng.

Tiếp tục đọc

CẮN DẬP NÁT NGÓN TAY ĐỂ TỪ BỎ NGHỀ TRỘM CẮP.

            Có lẽ giờ này Nguyễn Văn Dũng – tức “khoá” đã ra tù, nhưng câu chuyện mà Dũng “khoá” kể khiến tôi nhớ mãi. Từ một đứa trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, cuộc đời xô đẩy Dũng trở thành một siêu trộm chuyên nghiệp với biệt danh Dũng “khóa”.
Ăn trộm với Dũng như là một cái nghiệp. Dũng có một người vợ thất học, một người vợ đã bán máu để lấy tiền đi thăm nuôi chồng, một người vợ luôn tin việc chồng mình thích ăn cắp là do bị nguyền rủa, bị bùa chú, nên đã nghe lời thầy bói mà hàng ngày tự dùng roi đánh vào tay mình, với hi vọng như thế có thể hoá giải được “ngải” ăn cắp mà chồng đang mắc phải. Khi Dũng biết những chuyện đó, Dũng đã dùng răng cắn vào ngón tay trỏ đến dập nát, với lời thề bàn tay này sẽ vĩnh viễn không bao giờ vấy bùn. 
Siêu trộm có số phận đau đớn
Tôi sinh ra ở mảnh đất Quảng Trị nghèo thắt ruột, đến giờ này, cuộc đời tôi tràn ngập những ký ức buồn. Bố mẹ tôi chết trong một lần đi làm ruộng không may cuốc trúng mìn, năm ấy tôi mới 10 tuổi nhưng đã trở thành một đứa trẻ mồ côi. Không còn cha mẹ, tôi được ông bà nội đưa về nuôi. Thời đó tất cả người dân Quảng Trị quê tôi đều làm nghề nhặt bom bởi nó giúp người ta dễ kiếm được cái ăn hơn, nhưng nghề này lại bạc như vôi, nhiều người dân quê tôi chỉ cần không may, cuốc nhầm vào một quả lựu đạn còn thuốc là nắm chắc cái chết. Chết đau đớn, nhưng nhanh lắm, chỉ bùm một phát là xong, đến nỗi mà tôi nghĩ chắc chính họ cũng không kịp nhận ra là mình đã chết. Ông bà nội tôi cũng nghèo, đưa tôi về sống cùng, ông bà càng nghèo hơn. Thế là ngày ngày, tôi cùng ông bà lại đi lượm lặt xác bom đạn để đổi lấy miếng cơm.
 
(Ảnh minh họa)
 
Một buổi chiều muộn, như thường lệ, chúng tôi vẫn đi nhặt lựu đạn. Đúng lúc tôi quay sang, định bảo ông bà nội về nghỉ đi thì bùm một cái, ông bà tôi đã chết, cũng nhanh như những cái chết của người dân quê tôi. Chỉ trong tích tắc, tôi mất thêm hai người thân, chính thức trở thành một đứa trẻ không nơi nương tựa. Cái lúc chứng kiến cái chết của ông bà nội, tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất, tôi căm thù mảnh đất này, căm thù cả cái nghề tàn bạo này, tôi đã mất 4 người thân vì nó. Chôn cất ông bà xong, tôi bỏ nhà đi và không bao giờ quay trở lại nữa.

THẢM ÁN LÀNG “VŨ ĐẠI” VÀ LÁ BÙA CON RẮN

              Tròn 30 năm trước (1982) ở “làng Vũ Đại ngày ấy” (nay là Đại Hoàng, xã Hòa Hậu, Lý Nhân, Hà Nam) diễn ra một kỳ án chưa từng có.

Giữa một trưa hè oi ả, người chồng Trần Văn Sửu nhẫn tâm cầm dao giết chết vợ cùng hai đứa con dứt ruột đẻ ra rồi điên lọan mổ bụng moi ruột mình tự vẫn ngay trước mặt lực lượng dân quân xã.

Lại có thanh niên tràn đầy sức sống chết lạc trong vườn dứa chưa đầy một mẫu chỉ vì ăn trộm đúng vườn dứa bị bỏ bùa.

Hàng chục “kỳ án” như thế rơi vào bế tắc và không còn lời giải đáp chỉ đến khi người nhà phát hiện ra trong túi áo của người chết có những lá bùa vẽ hình con rắn nhỏ hay người biết rõ câu chuyện vườn dứa bị bỏ bùa tiết lộ.

Kỳ 1: Bốn con vịt, bốn mạng người

Chập choạng tối, sau bao nhiêu lần năn nỉ, cụ Trần Thị Toản, xóm 15, Hòa Hậu, Lý Nhân, Hà Nam mới dẫn chúng tôi đến ngôi nhà của Trần Văn Sửu khi xưa. Bước qua nhưng con đường bê tông ngoằn nghèo đầy cỏ dại chúng tôi đến được một khu vườn âm u, kỳ dị. Lối vào ngôi nhà đã được bịt kín bằng những ngọn rào tre chỉ thấy ở quê. Để tiến vào ngôi nhà, anh em phải rẽ những vạt cây cỏ chuồn chuồn cao ngang bụng người. Dừng trước cửa nhà khoảng 5m, một đàn dơi hàng trăm con thấy động ùa ra trong đêm tối như mực.

Những tiếng đếm trong đêm

“Tôi là người biết cậu ấy từ nhỏ. Hôm cậu ấy và nhiều người xuất ngũ về quê, tôi là người tổ chức chị em đi đón (bà Toản nguyên là người phụ trách công tác phụ nữ xã những năm 1980- PV). Từ nhỏ đến lớn, cậu ấy hiền lành chăm chỉ lắm. Rồi cậu ấy tự nhiên giết vợ con rồi tự tử thì không ai dám tin. Căn nhà này đã bỏ hoang từ khi cả gia đình cậu ấy chết” – Câu chuyện về kỳ án năm xưa được bà Toản kể lại ngay tại ngôi nhà khiến cả người dẫn đi lẫn chúng tôi rùng mình ớn lạnh…

Năm 1979, Trần Văn Sửu vốn là một lực điền, 25 tuổi tròn. Lấy vợ được hai con thì Sửu được lệnh tổng động viên lên biên giới phía Bắc, đóng quân tại Vị Xuyên, Hà Giang. Đẹp trai, ăn nói dễ nghe, lại học hết cấp hai nên Sửu được chuyển sang đơn vị tuyên huấn và dân vận. Sau những đêm bám chốt, Sửu được phép xuống các bản làng để vận động thêm lương thực và vận đồng bà con góp sức cho những tuyến dân công. Trong những lần xuống bản, Sửu gặp một cô gái Thái tròn đôi mươi đẹp như đóa hoa rừng. Dù có vợ con nhưng Sửu không thể thờ ơ với vẻ đẹp ấy của cô gái. Gia đình cô gái cũng quý chàng trai chịu khó lại là người của quân đội nên hay giữ lại ăn cơm.

Chuyện gì đến cũng đến, Sửu và cô gái Thái đến với nhau một cách tự nhiên. Không ăn hỏi, không cưới xin, gia đình cô gái vẫn để cho Sửu qua lại nhà như con rể của mình. Có ân hận, ăn năn với vợ con quê nhà nhưng Sửu cũng chẹp miệng cho qua: Hết chiến tranh sẽ dứt hẳn cô gái Thái để về với vợ con cho tròn nghĩa vợ chồng.

Tình ấm được hơn năm. Trong một trận đánh giữ chốt, Sửu bị thương được chuyển hẳn về làm công tác hậu cần và cho giải ngũ. Khi hành trang đã chuẩn bị sẵn tất cả, Sửu xuống từ biệt gia đình và cô gái Thái để về với quê. Đêm cuối cùng Sửu mới nói thật với người “già nhân ngãi, non vợ chồng” rằng đã có vợ, hai con. “Có thể mình sẽ không gặp nhau nữa”- Sửu nói. Cô gái khóc òa lên lao vào lòng Sửu đau đớn: “Thì anh chỉ cần lên với em là được”. Nhưng Sửu nói không thể vì như thế là quá có lỗi với người vợ ở quê.

Đang khóc, chợt cô gái Thái đứng phắt dậy, gạt nước mắt nói: “Anh đã cạn tình thì em chẳng có gì để nói. Một, hai, ba, bốn…”- Cô gái lẩm nhẩm đếm mà Sửu chẳng hiểu gì cả. Trong ánh sáng chập choạng, mặt cô gái hiện lên không còn trong trẻo nữa mà như phù thủy nanh ác. Tiếng đếm khiến Sửu rợn người. Cô gái vẫn tiếp lời: “Tiễn anh, nhà em làm 4 con vịt để đãi khách. Nếu anh còn nhớ đến em, lên với em thì thôi. Còn nếu không, sau này anh sẽ hối hận!”. Nói xong, cô gái lao vụt vào rừng trong đêm tối.

Kẻ giết người: Lá bùa hình con rắn?

Nghe xong, Sửu nghĩ cô gái giận quá nên nói lung tung cũng chẳng nghĩ ngợi gì thêm rồi dọn đồ vào chiếc balô mà chính cô gái Thái khâu giúp. Sáng mai, anh phải lên đường về quê với vợ. Trên đường trở về, Sửu có kể cho một người đồng ngũ nghe. Người đồng ngũ hơn Sửu 8 tuổi, cùng quê nhưng có đã ở huyện vùng cao Vị Xuyên, Hà Giang gần 10 năm. Nghe chuyện cô gái nói với Sửu, anh giật mình: “Cô gái người Thái nói thể? Thôi chết, biết làm thế nào bây giờ?”. Nghĩ người bạn đường lo cho cô gái, Sửu chỉ cười mà không kể gì thêm. Nào ngờ…

Thảm án làng "Vũ Đại" và lá bùa con rắn, An ninh Xã hội, giet nguoi, an mang, ky an, tham an, lang vu dai, ly nhan ha nam, bao, bao cong an, bao an ninh, vn

Đã 30 năm, nhưng vụ thảm án năm xưa liên quan đến bùa yêu vẫn ám ảnh người dân làng Vũ Đại.

“Về nhà sống với vợ, cậu Sửu vẫn giữ những tính cũ: Hiền lành, chịu khó, hay cười. Bẵng đi một năm sau, sau một trận ốm nhẹ, cậu ấy trở nên bẳn tính. Mắng vợ, chửi con suốt một ngày dài. Trưa hôm sau, tự nhiên ra quán mua rượu uống rồi lảm nhảm một mình, đôi mắt hằn lên những vằn đỏ. Đó là trưa ngày 21/8/1982”- Ông Trần Văn Giang, một người gần gũi với Trần Văn Sửu từ bé nhớ lại vụ thảm án năm xưa.

Về đến đầu ngõ, thấy vợ dóc mía ăn, đôi mắt vằn đỏ của Sửu như dại đi. Con dao từ tay vợ bị Sửu giằng lấy, đâm hai nhát vào bụng vợ. Đứa con nhỏ 4 tuổi cũng bị Sửu đâm một nhát. Hai mẹ con chết ngay. Chạy vào nhà, Sửu đi tìm đứa con lớn. Lúc này, cháu đang chơi bên hàng xóm nằm vòng tập đánh vần. Sửu ào sang, bế thốc con về rồi đâm chết luôn. Đến khi dân quân đến, Sửu đang nằm cạnh xác vợ con, từ từ cởi áo. Tiếng súng bắn chỉ thiên liên hồi không làm Sửu mảy may. Sửu đã tự rạch bụng mình, lần lấy ruột và cắt đứt. “Chỉ đến khi ấy, khuôn mặt dữ dằn của Sửu trong tích tắc trở nên hiền lành như xưa lại có vẻ thanh thản lắm” – ông Trần Văn Xuyên, hàng xóm của Sửu hiện là trưởng xóm 15, kể lại.

Trong đám tang cả nhà Sửu, người bạn đồng ngũ về cùng với Sửu cũng có mặt. Người bạn ấy chỉ lắc đầu thở dài. Theo lời ông trưởng thôn Trần Văn Xuyên, vụ thảm án diễn ra làm rung động toàn miền Bắc lúc bấy giờ. “Sau đó các cơ quan pháp y và điều tra vào cuộc nhưng không tìm được manh mối gì của vụ ván nên khép lại. Động cơ của Sửu giết vợ, con và tự sát lại càng mù mờ” – ông Xuyên nói.

Nhưng có một chi tiết khiến nhiều người làng Vũ đại đồn đoán: Sau đám tang 3 ngày, khi dọn dẹp đồ vật, người nhà Sửu phát hiện một cái túi nhỏ, khâu rất khéo dưới đáy balô của Sửu: Một lá bùa nhỏ bằng hai ngón tay có hình con rắn đang há miệng. “Tìm gặp hỏi lại người bạn cậu Sửu, người nhà mới biết được câu chuyện cậu Sửu với cô gái Thái kia. Người bạn ấy cũng nói Sửu đã phụ tình và bị đánh bùa. Bùa yêu hay gì đó. Cô gái đếm đến 4 cũng tương đương với 4 mạng người nhà cậu Sửu. Người nhà cậu Sửu mới tá hỏa lên nhưng muộn mất rồi” – bà Trần Thị Toản nói.

(Còn nữa)

Theo Đình Tú ( Đất Việt)

 Nguồn:  24h.com

ĐIỆU TANGO VĨNH BIỆT

Bút ký người điều tra:

ĐIỆU TANGO VĨNH BIỆT

       Từ Kế Tường

                 Cuối thập niên 90, đầu thập niên 2000 có một vụ án liên quan đến một Việt kiều mà trong giới ăn chơi về đêm ở TP. Hồ Chí Minh đều biết tiếng. Liên quan đến cái chết của doanh nhân Việt kiều này vẫn là chuyện tình, tiền, thù hận… và tất nhiên không thoát khỏi vòng vây của ân oán giang hồ trong môi trường làm ăn, cạnh tranh bất chính cũng đang nổi lên, diễn biến khốc liệt và phức tạp. Vụ án đã gây xôn xao dư luận vì những nguyên do kể trên, đồng thời cũng do liên quan tới một vũ nữ chân dài, hoa hậu của một vũ trường nổi tiếng. Những trinh sát, điều tra viên tham gia vụ án đã không ngại vất vả, khó khăn, thận trọng lần tìm đầu mối từ mớ bòng bong giống như một cuộn chỉ rối, để cuối cùng bắt được thủ phạm vô cùng xảo quyệt, có nhiều kinh nghiệm xóa dấu vết và thủ đoạn đối phó với công an. Bài “Bút ký người điều tra” này, tác giả ghi lại từ lời kể của các trinh sát, điều tra viên lúc bấy giờ. Do yêu cầu của những người trong cuộc nên nhân vật đã được đổi tên.

Hình chỉ mang tính minh họa
(nguồn:Internet)

Kỳ 1: NGƯỜI TRONG TẦM NGẮM

Trần Vinh gấp cuốn sổ tay công tác ghi chi chít những chữ là chữ không phải dạng tốc ký, cũng chẳng phải lối viết vội của thời sinh viên mà là một kiểu viết rất đặc biệt của chính anh sáng tạo ra cho nghề làm trinh sát, và cũng chỉ có anh đọc mới hiểu. Bước ra khỏi phòng họp của lãnh đạo, phổ biến ngắn gọn cho tổ trinh sát ba người mà anh làm tổ trưởng, Trần Vinh bị ám ảnh bởi cái tên Hùng Bò, đối tượng mà anh đã ghi vắn tắt lý lịch vào sổ tay và cẩn thận gạch dưới bằng bút đỏ. Đồng nghiệp cùng tổ điều tra của Trần Vinh đi bên cạnh: nữ trinh sát Hoàng My và Lê Văn. 

Cả ba đều được phổ biến nhiệm vụ, bao giờ thủ trưởng Vũ Hùng cũng kiệm lời khi giao mục tiêu công tác, chỉ khéo léo gợi ý để các trinh sát phát huy tính độc lập trong suy luận của mình và thật sự sáng tạo trong công tác xác minh, điều tra. Vụ án này cũng thế: một băng giang hồ cộm cán chuyên đòi nợ thuê, cho vay nặng lãi, bảo kê quán bia ôm, vũ trường… dưới trướng của một ông trùm núp bóng công ty kinh doanh gỗ có trụ sở ở Q3, TP. Hồ Chí Minh và chi nhánh, nhà xưởng ở Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Một cái tên Hoàng Dũng tức Dũng Gỗ, còn có biệt danh Dũng Râu, doanh nhân trẻ, thành đạt, trùm của băng nhóm này mà Hùng Bò là thành viên, đàn em thân cận của Dũng Râu cũng chỉ là một cái tên rất mơ hồ, chưa có ấn tượng gì ngoài gương mặt của người đàn ông có bộ râu quai nón như Trần Vinh hình dung.
Nữ trinh sát Hoàng Mi, em út của tổ điều tra… nhõng nhẽo:
– Anh Trần Vinh ơi, em bị kiến cắn bụng rồi, sáng giờ chỉ toàn họp là họp, nếu giờ vào phòng anh… họp nữa chắc em xỉu mất. 

Quán cà phê hộp nằm trên đường Mạc Đĩnh Chi, Q1, buổi trưa, một ngày đông khách. Ba trinh sát mặc thường phục bước vào quán chẳng ai chú ý, giờ này người ta đang mãi ăn trưa, uống cà phê, tán chuyện ồn ào khiến không gian trong quán tuy rộng cũng hết sức náo nhiệt. Trần Vinh chọn chiếc bàn phía ngoài sảnh có cửa kính, bên cạnh hồ cá nhỏ với thác nước nhân tạo đang đổ xuống.

Trong lúc ăn sáng, Hoàng My hỏi:
– Đối tượng mà em phải quan tâm là cô gái thế nào nhỉ?
– Là một vũ nữ trẻ đẹp, hoa hậu của vũ trường Đom Đóm Xanh trên đường Đồng Khởi, một “chân dài” có giá trị cả ngàn đô la đấy – Trần Vinh đáp.

Hoàng My giẫy nẩy:
– Chết rồi, em không dám vào vũ trường một mình đâu. Ở đó toàn những cô gái “chằn ăn trăn quấn”, ăn tục, nói phét, hút thuốc, đánh bài và dám… rạch mặt, xẻo lỗ tai tình địch.
– Sao em biết? – Trần Vinh hóm hỉnh hỏi – Nhưng em yên tâm, vũ trường cũng không phải là chỗ ghê gớm lắm đâu. Vì sau lưng em đã có anh và Lê Văn.

Tiếp tục đọc