• KHÚC HÁT QUÊ TÔI

  • GIẬN MÀ THƯƠNG

  • TẶNG VỢ YÊU !

  • H.CƯỚI ĐỨC-TẶNG

  • HÌNH ẢNH BOBO

  • KH. HÁT SÔNG QUÊ

  • Categories

  • Trao đổi trực tuyến với Hồng Sinh tại đây !

  • Bạn thích và muốn tự học môn Khiêu vũ hãy bấm vào đây!

  • Tìm hiểu dịch vụ do Hồng Sinh cung cấp bấm vào đây !

  • Bài viết mới

  • Hình ảnh thị xã Cao Bằng bị quân Trung Quốc bắn phá tan hoang do nhiếp ảnh gia Trần Mạnh Thường ghi lại. Khi đó, ông là cán bộ phòng biên tập ảnh của Nhà xuất bản Văn hóa được tăng cường lên biên giới phía Bắc cuối năm 1978. Từ lúc chiến sự xảy ra đến đầu tháng 3/1979, ông theo chân công an vũ trang đi khắp chiến trường Cao Bằng, ghi lại những hình ảnh chân thực của cuộc chiến 38 năm trước bằng một chiếc máy ảnh và 20 cuộn phim.

  • Cô bộ đội bế bé gái theo mẹ đi tản cư tại chân cầu Tài Hồ Sìn (Hòa An, Cao Bằng). Mẹ của bé trúng đạn quân Trung Quốc bị thương nặng, được bộ đội đưa về tuyến sau. "Tình hình khi ấy rất khẩn trương, ai cũng hoang mang vì không nghĩ Trung Quốc lại đưa quân tràn qua bắn phá", ông Thường kể.

BIÊN GIỚI PHÍA BẮC ĐẦU THÁNG 2-1979, NHỮNG NGÀY TRƯỚC KHI NỔ SÚNG

Biên giới phía Bắc đầu tháng 2/1979, những ngày trước khi súng nổ

                                                               ĐẠI TÁ ĐẶNG VIỆT THỦY

                                                                     Nguồn: Giaoduc.net.vn

             LTS: Đại tá Đặng Việt Thủy cung cấp thông tin về một số sự kiện về phòng thủ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta trước cuộc chiến tranh Biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979.

chien_tranh_4

       Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975, cách mạng Việt Nam chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đất nước thống nhất, tiến lên xây dưng chủ nghĩa xã hội. 

Nhiệm vụ cấp bách của cả nước lúc này là tập trung khôi phục và phát triển kinh tế, nhanh chóng khắc phục hậu quả nặng nề do chiến tranh tàn phá.

Đối với các đơn vị quân đội có nhiệm vụ vừa tham gia xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, chủ yếu tập trung vào vùng biên giới, nơi xung yếu, làm giao thông, kết hợp trồng rừng… vừa huấn luyện, công tác và sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 29/5/1976, Chủ tịch nước ký Sắc lệnh 45/SL sáp nhập Quân khu Tây Bắc và Quân khu Việt Bắc thành Quân khu 1

Lúc này Quân khu 1 gồm 7 tỉnh: Bắc Thái, Cao Lạng, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Vĩnh Phú, Lai Châu và Sơn La. 

Quân khu có diện tích 93.981 ki lô mét vuông (chiếm 28% diện tích toàn quốc), dân số 5.278.600 người, có đường biên giới Việt – Trung dài 1.412km và biên giới Việt – Lào dài 552km. 

Trên địa bàn Quân khu có 40 dân tộc anh em. Nhiệm vụ của Quân khu sau khi được sáp nhập: 

Một là, phải duy trì chế độ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ vững chắc biên giới và an ninh chính trị, trật tự xã hội trong nội địa.

Hai là, chủ động phối hợp với các địa phương xây dựng lực lượng vũ trang cả ba thứ quân vững mạnh, rộng khắp, được rèn luyện thường xuyên, cơ bản để sẵn sàng đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra. 

Ba là, tích cực tham gia xây dựng kinh tế, gắn kinh tế với quốc phòng, an ninh. Bốn là, sẵn sàng làm tròn nhiệm vụ quốc tế với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Việc sáp nhập hai Quân khu Việt Bắc và Quân khu Tây Bắc thành Quân khu 1 là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ngay sau khi chuyển giai đoạn cách mạng nhằm rút gọn đầu mối, chỉ huy thống nhất các lực lượng trong thế phòng thủ chung bảo vệ Tổ quốc.

Để kịp thời thống nhất về tổ chức lãnh đạo, ngày 7/6/1976, Ban chấp hành Trung ương Đảng quyết định hợp nhất 2 Đảng bộ Quân khu Việt Bắc và Quân khu Tây Bắc thành một Đảng bộ lấy tên là Đảng bộ Quân khu 1, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương.

Bộ Chính trị chỉ định đồng chí Thiếu tướng Đàm Quang Trung, Tư lệnh Quân khu làm Bí thư Quân khu ủy lâm thời.

Ngày 8/6/1976, Quân ủy Trung ương chỉ định 6 đồng chí vào Ban chấp hành Đảng bộ Quân khu.

Ngày 19/11/1976, tại khu vực gần bến phà Đoan Hùng, Trung đoàn công binh 89 được thành lập, trên cơ sở Tiểu đoàn cầu phà và Tiểu đoàn công trình thuộc Bộ Tư lệnh Công binh.

Trong thời gian này, những đơn vị làm kinh tế kết hợp với quốc phòng được thành lập và kiện toàn. 

Ở Lào Cai, Yên Bái có Đoàn 344, Đoàn 345. Ở huyện Trùng Khánh, Cao Bằng có Trung đoàn 567. Ở Ngân Sơn – Bắc Thái có Trung đoàn 677. Ở Thác Bà – Yên Bái có Trung đoàn 254. Ở Lai Châu có Trung đoàn 471 và trung đoàn 82. Ở Sơn La có Trung đoàn 184.

Ngoài ra ở mỗi huyện biên giới còn thành lập một đội có từ 300 đến 500 người làm nhiệm vụ mở đường, trồng rừng, làm thủy lợi, thủy điện nhỏ kết hợp bảo vệ biên giới Tổ quốc.

Từ năm 1977, tiếp theo những diễn biến căng thẳng ở biên giới Tây Nam, tình hình biên giới phía Bắc của Tổ quốc bắt đầu xuất hiện phức tạp.

Ở một số địa phương giáp biên giới thuộc địa bàn Quân khu 1 đã xảy ra tình trạng xâm canh, xâm cư, có biểu hiện phía Trung Quốc tạo cớ gây xung đột nhỏ.

Ngày 30/4/1977, tập đoàn phản động Pôn pốt – Iêng Xa ri gây chiến tranh trên biên giới Tây Nam nước ta. Lúc này, tình hình biên giới phía Bắc đột xuất trở nên căng thẳng, mất ổn định và có thể dẫn tới xung đột. 

Sau đó, trên tuyến biên giới phía Bắc tình hình ngày càng diễn biến phức tạp. 

Tháng 6/1977, Quân khu tiếp nhận Sư đoàn 316 (thuộc Quân đoàn 3) từ phía Nam chuyển ra. 

Đồng thời Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định thành lập các trung đoàn, binh chủng 231, 124 và 976. 

Như vậy, từ chỗ giải thể, giảm quân số vào cuối năm 1975 và năm 1976, đến đầu năm 1977, lực lượng vũ trang Quân khu 1 bắt đầu được mở rộng nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng tuyến phòng thủ bảo vệ biên giới.

Thực hiện Sắc lệnh của Hội đồng Chính phủ về điều chỉnh lực lượng, khu vực phòng thủ, ngày 29/6/1977 tại Sở chỉ huy Quân khu 3, Thiếu tướng Nguyễn Quyết – Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 3 đại diện bên giao; Thiếu tướng Đàm Quang Trung – Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1 đại diện bên nhận, cùng các cơ quan chức năng của 2 Quân khu tiến hành bàn giao nhiệm vụ phòng thủ chiến lược chủ yếu phía Đông Bắc cho Quân khu 1 gồm 2 tỉnh Quảng Ninh, Hà Bắc. 

Đồng thời tiếp nhận các đơn vị: Sư đoàn bộ binh 3, Sư đoàn 325B, Sư đoàn bộ binh 431 dự bị, Lữ đoàn 242, Trung đoàn 272, Tiểu đoàn công binh công trình, Tiểu đoàn tàu thuyền, đại đội trinh sát, 2 đại đội thông tin cùng toàn bộ vật chất trang bị của bộ đội thường trực và dân quân tự vệ.

Cuối năm 1977 và đầu năm 1978, tình hình biên giới phía Bắc diễn biến ngày càng phức tạp hơn. 

Phía Trung Quốc tăng cường xâm lấn đất đai, khiêu khích vũ trang dọc tuyến biên giới, tung tin, xuyên tạc, vu cáo, kích động nhân dân dọc biên giới, dồn ép người Hoa, dựng nên sự kiện “Nạn kiều”.

Hàng vạn người Hoa từ các nơi dắt díu, gồng gánh lên biên giới để trở về Trung Quốc. Khi người Hoa kéo lên đông thì phía bên kia đóng cửa biên giới. 

Hàng ngàn gia đình phải chịu cảnh màn trời, chiếu đất nằm lại ở các cửa khẩu làm cho tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các cửa khẩu biên giới rất phức tạp… 

Thời gian này, Trung Quốc điều động quân và binh khí kỹ thuật áp sát biên giới, ngày đêm nổ mìn làm đường, thiết bị công sự, trận địa, diễn tập quân sự, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. 

Về kinh tế, họ tuyên bố cắt viện trợ quân sự và ngừng thi công các công trình, yêu cầu Việt Nam nhanh chóng thu xếp hoàn trả số hàng quân sự cho vay theo quy chế “viện trợ hoàn lại” thanh toán sau chiến tranh, được quy đổi thành “ngoại tệ mạnh”…

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, dưới sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu đã xây dựng kế hoạch tác chiến phòng thủ và bảo vệ biên giới, phòng chống bạo loạn. 

Tổ chức điều chỉnh, bố trí lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương trên các khu vực xung yếu từ Lai Châu đến tuyến đảo Quảng Ninh. Các binh chủng, các trung đoàn, sư đoàn làm kinh tế gấp rút chấn chỉnh tổ chức, trang bị để sẵn sàng cơ động lên phía trước làm nhiệm vụ.

Đầu tháng 3/1978, dưới sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, trực tiếp là Cục Tác chiến, Quân khu 1 đã tổ chức điều chỉnh, bố trí lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ trên các khu vực. 

Trung đoàn 82 được điều lên Điện Biên. Sư đoàn 316 từ Nghĩa Lộ lên Bình Lư, Lai Châu. Đoàn 346 đang làm đường ở Hà Tuyên, chuyển sang Cao Bằng. 

Sư đoàn 325B triển khai ở Đình Lập, Tiên Yên, Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh. Đề nghị Bộ tăng thêm lực lượng cho Lữ đoàn 242…

Ngày 2/5/1978, Tư lệnh Quân khu 1 ra quyết định Sư đoàn 345 vừa xây dựng kinh tế lâm trường, mỏ A-pa-tít Lào Cai vừa sẵn sàng chiến đấu.

Tổ chức Sư đoàn 345 gồm cơ quan sư đoàn, 1 trung đoàn bộ binh, 1 khung trung đoàn bộ binh dự nhiệm, 1 trung đoàn chuyên làm đường, 1 tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp và các phân đội trực thuộc. 

Trung đoàn 124 Quân khu chuyển thuộc Sư đoàn 345 để xây dựng thành sư đoàn bộ binh chiến đấu. Khôi phục Trung đoàn 121 để chuyển làm kinh tế, huấn luyện theo trung đoàn bộ binh chiến đấu.

Ngày 22/4/1978, Sư đoàn bộ binh 346 chính thức được thành lập theo quyết định của Tổng Tham mưu trưởng, chuyển sang làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.

Trên cơ sở Đoàn 346 chuyên làm kinh tế, tổ chức Sư đoàn được kiện toàn gồm cơ quan sư đoàn, các phân đội trực thuộc, Trung đoàn bộ binh 246, Trung đoàn pháo binh 188, 1 khung trung đoàn bộ binh huấn luyện tân binh, 1 khung trung đoàn bộ binh dự nhiệm. 

Các đơn vị được điều về trực thuộc Sư đoàn 346 gồm: Trung đoàn 851 Quân khu để xây dựng 8 tiểu đoàn huấn luyện tân binh, Trung đoàn 677 Bắc Thái để xây dựng Trung đoàn pháo binh hỗn hợp; Tiểu đoàn đặc công Quân khu lấy phiên hiệu Tiểu đoàn 11…

Ngày 26/5/1978, Hội đồng Chính phủ ra Sắc lệnh tách các tỉnh thuộc Quân khu Tây Bắc cũ và 3 tỉnh Vĩnh Phú, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên ra khỏi Quân khu 1 để thành lập Quân khu 2. 

Sáp nhập tỉnh Quảng Ninh và Hà Bắc thuộc Quân khu 3 vào Quân khu 1. Lúc này Quân khu 1 có 4 tỉnh Bắc Thái, Quảng Ninh, Hà Bắc và Cao Lạng. Đồng chí Vũ Lập là Tư lệnh Quân khu 2. Đồng chí Đàm Quang Trung là Tư lệnh Quân khu 1.

Ngày 27/7/1978, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IV) họp ra nghị quyết. Trung ương Đảng chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân là đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của tập đoàn phản động Pôn-pốt – Iêng Xa-ri trên biên giới Tây Nam, đồng thời tăng cường khả năng phòng thủ và trình độ sẵn sàng chiến đấu trên hướng biên giới phía Bắc và Tây Bắc, sẵn sàng đánh bại cuộc chiến tranh lấn chiếm của đối phương, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên cương Tổ quốc.

Ngày 4/9/1978, Bộ Quốc phòng có mệnh lệnh tác chiến chính thức bằng văn bản cho Quân khu 1. So với chỉ thị trước đó, có tăng thêm Sư đoàn 338 lên phòng thủ trên hướng Đình Lập, thay Sư đoàn 325B về hướng Quảng Ninh.

Ngày 30/10/1978, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị về thống nhất chỉ đạo xây dựng tuyến phòng thủ biên giới phía Bắc.

Trên cơ sở đó, các ngành ở Trung ương có liên quan và các địa phương căn cứ vào chức năng của mình, tích cực tham gia xây dựng tuyến phòng thủ biên giới theo theo kế hoạch chung của Bộ Quốc phòng.

Ngày 3/12/1978, Quân khu 1 và Quân khu 2 nhận được lệnh của Bộ Quốc phòng chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao cho tất cả các lực lượng vũ trang Quân khu.

Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ thị cho các địa phương, đơn vị nhanh chóng triển khai lực lượng sẵn sàng chiến đấu. 

Các sư đoàn, trung đoàn đóng quân trên dọc tuyến biên giới được bố trí thành 2 lực lượng: tiền phương và hậu cứ. Các chiến sĩ bộ binh ăn ngủ ngay trên các điểm tựa, chiến hào.

Dân quân tự vệ duy trì chế độ thường trực 24/24 giờ trong ngày để phối hợp với bộ đội chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Ngày 29/12/1978, Quốc hội quyết định tái lập hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn; Cao Bằng sáp nhập hai huyện Chợ Rã và Ngân Sơn của tỉnh Bắc Thái; Lạng Sơn thêm huyện Đình Lập của Quảng Ninh.

Ngày 7/1/1979, đáp lời kêu gọi của nhân dân và Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, bộ đội quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân nước bạn đã giải phóng thủ đô Phnôm Pênh, lật đổ chế độ diệt chủng Pôn-pốt – Iêng Xa-ri.

Dự đoán sau sự kiện này, đối phương có thể phản ứng mạnh ở biên giới phía Bắc, ngày 8/1/1979, Thường vụ Quân ủy Trung ương ra Chỉ thị sẵn sàng chiến đấu cao cho toàn quân.

Chỉ thị nêu rõ: “Tất cả các quân khu, quân chủng, binh chủng, đặc biệt là Quân khu 1, Quân khu 2 và các tỉnh biên giới phía Bắc; các Quân chủng Phòng không, Không quân, Hải quân phải ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao nhất. 

Các sư đoàn, các đơn vị trực thuộc của quân khu và quân – binh chủng, các trung đoàn, tiểu đoàn và đại đội bộ đội địa phương tỉnh và huyện phải bảo đảm từ một phần ba đến hai phần ba quân số luôn luôn tại trận địa, chiến hào. 

Các trận địa pháo mặt đất, pháo phòng không phải bố trí sẵn ở trận địa, nếu có địch là nổ súng được ngay“.

Ngày 17/2/1979, Trung Quốc huy động trên 60 vạn quân với hàng trăm xe tăng, xe bọc thép và hàng nghìn khẩu pháo, mở cuộc tiến công ồ ạt vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, từ Quảng Ninh đến Lai Châu.

Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới, toàn dân tộc ta bước vào cuộc chiến đấu mới” chống quân xâm lược. 

Qua 30 ngày đêm (từ 17/2 đến 18/3) chiến đấu anh dũng, quân và dân ta đã tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng ba trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy 550 xe quân sự, trong đó có 280 xe tăng và xe bọc thép, phá hủy 115 khẩu pháo và súng cối hạng nặng, thu nhiều vũ khí…

Trước sức tiến công mạnh mẽ của quân và dân ta, đồng thời bị dư luận tiến bộ trên thế giới kịch liệt lên án, ngày 6/3/1979, phía Trung Quốc bắt đầu vừa đánh vừa rút quân và kết thúc rút quân về nước vào ngày 18/3/1979.

* Tài liệu tham khảo chính:

– Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, “Quân đội nhân dân Việt Nam (Biên niên sự kiện)”, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội – 2002.

– Bộ Tư lệnh Quân khu 1, “Lịch sử lực lượng vũ trang Quân khu 1 (1975-2010)”, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội – 2010.

Đại tá Đặng Việt Thủy

—————————–

35 NĂM CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

Nguồn: vnexpress.net/

          Tháng 1/1979, Việt Nam mở chiến dịch Tây Nam lật đổ chế độ diệt chủng Khmer đỏ thân Trung Quốc tại Campuchia, Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”.

              Quan hệ Việt – Trung bắt đầu rạn nứt năm 1968 khi Việt Nam đồng thời giao hảo với cả Liên Xô và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ 2 nước này xuất hiện nhiều xung đột căng thẳng. Năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon tới thăm Bắc Kinh và đạt được thỏa thuận với Trung Quốc. Ba năm sau đó, Việt Nam từ chối tham gia liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc.

Bắc Kinh đã xem đó như mối đe dọa. Tháng 5/1975, Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu, thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam, tàn sát hàng nghìn dân thường. Đứng sau viện trợ cho Khmer Đỏ về vũ khí, khí tài cũng như cố vấn quân sự là Trung Quốc. Tranh chấp Trường Sa và Hoàng Sa cũng nổi lên rõ hơn khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền với hai quần đảo.

Ngày 3/11/1978, Việt – Xô ký hiệp ước hữu nghị 25 năm – chính thức xác nhận Việt Nam đứng về phía Liên Xô. Gần 2 tháng sau, quân đội Việt Nam tổng phản công trên biên giới Tây Nam, đánh sang Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trung Quốc quyết định dừng viện trợ cho Việt Nam.

Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khi ấy đã tuyên bố  “phải dạy cho Việt Nam một bài học”.

Cuộc chiến 30 ngày

Rạng sáng 17/ 2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa quân tràn qua biên giới, đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới lãnh thổ Việt Nam từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) với chiều dài 1.200 km.

Dù từng tuyên bố về ý định trừng phạt trước đó, cuộc tấn công của Trung Quốc vẫn bất ngờ với Việt Nam và cả thế giới.

Theo Niên giám châu Á năm 1980, thời điểm Trung Quốc tấn công, tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc chỉ có khoảng 50.000 quân.

Trong khi đó, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập; 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn, nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không cùng hàng trăm pháo hạng nặng, hàng nghìn súng cối và dàn hỏa tiễn. Quân Trung Quốc ước lượng có 600.000 người, gấp hơn 10 lần lực lượng tham chiến thực tế của Việt Nam.

Trên mặt trận Lạng Sơn, các cánh quân lớn của Trung Quốc chia làm nhiều mũi đánh vào Bản Chất (Đình Lập), Chi Ma, Ba Sơn (Lộc Bình), Tân Thanh, Tân Yên (Văn Lãng) và khu vực thị trấn Đồng Đăng (Lạng Sơn). Dù bị bất ngờ song chỉ với lực lượng dân quân địa phương, Việt Nam đã quả cảm chặn đánh, ghìm chân quân Trung Quốc nhiều ngày.

Những người lính đầu tiên bảo vệ đất nước là bộ đội địa phương, công an vũ trang (bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ và nhân dân 6 tỉnh biên giới. Ảnh tư liệu.

Những người lính đầu tiên bảo vệ đất nước là bộ đội địa phương, công an vũ trang (bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ và nhân dân 6 tỉnh biên giới. Ảnh tư liệu.

Ngày 20/2, Trung Quốc tăng cường lực lượng chi viện, mở các đường tấn công mới vào điểm cao nhằm tiến xuống phía nam Đồng Đăng. Quân và dân Lạng Sơn bám trụ trận địa, đánh trả mạnh mẽ các mũi tấn công phía trước, phía sau của địch, buộc quân xâm lược phải co về đối phó và bị đẩy lùi ở nhiều mặt trận.

Sau 10 ngày chiến đấu không đạt được mục tiêu, ngày 27/2, Trung Quốc tung thêm một quân đoàn nhằm vào thị xã Lạng Sơn dùng chiến thuật biển người hòng xâm chiếm các mục tiêu quan trọng. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt giữa 2 quân đoàn tăng cường của Trung Quốc và lực lượng vũ trang địa phương Việt Nam. Ở điểm cao 417, đoàn An Lão đã đánh bật hàng chục đợt tấn công, loại khỏi vòng chiến đấu trung đoàn 850 của Trung Quốc. Đặc biệt, ở khu vực cầu Khánh Khê trên đường 1B, chiến sĩ đoàn Tây Sơn đã kiên cường chặn đứng một sư đoàn quân và một tiểu đoàn xe tăng Trung Quốc.

Ở hướng Cao Bằng, hai quân đoàn tăng cường của Trung Quốc hình thành hai cánh quân lớn từ phía tây bắc theo đường Thông Nông đánh xuống và từ phía đông bắc qua Thạch An, Quảng Hòa đánh lên nhằm hợp điểm ở thị xã Cao Bằng.

Cả hai cánh quân đều bị bộ đội địa phương và dân quân Cao Bằng đánh chặn. Cánh quân tây bắc dựa vào sức đột phá của xe tăng bị chặn tại Hòa An. Cánh quân đông bắc cũng bị đánh quyết liệt ở Thạch An và Quy Thuận, bị chặn đứng trên đường số 4. Mũi đánh vào Trà Lĩnh, Phục Hòa gồm 2 sư đoàn nhằm chiếm đèo Mã Phục, Khâu Chia cũng bị lực lượng vũ trang địa phương phản kích xé tan đội hình, bỏ chạy về bên kia biên giới.

3 ngày đầu, quân Trung Quốc tại Cao Bằng đã bị thiệt hại 4 tiểu đoàn, bị phá hủy hàng chục xe tăng, xe bọc thép và buộc phải đưa lực lượng dự bị vào vòng chiến. Trên trận địa phòng ngự tại đồi Khâu Chia, các lực lượng của Việt Nam đã chặn đứng một sư đoàn Trung Quốc trong 12 ngày, diệt hơn 4.000 lính. Ngày 12/3, quân Trung Quốc tháo chạy.

Trên tuyến Hoàng Liên Sơn, mờ sáng 17/2, các sư đoàn tuyến 1 của hai quân đoàn Trung Quốc ồ ạt tấn công toàn biên giới Hoàng Liên Sơn từ phía tây bắc đến đông bắc thị xã Lào Cai. Cùng với việc đánh nhiều mũi vào các huyện Bát Xát, Mường Khương, bắn pháo dữ dội vào thị xã, quân Trung Quốc đồng thời bắc cầu qua sông Nậm Thi, cho xe tăng và bộ binh tiến vào thị xã Lào Cai và khu vực Bản Phiệt. Dân quân, tự vệ thị xã cùng các lực lượng vũ trang ở đây đánh trả quyết liệt. Sau 7 ngày, hai quân đoàn Trung Quốc không qua nổi trận địa đánh chặn, phục kích của quân và dân Hoàng Liên Sơn.

Trên các hướng Lai Châu, Hà Tuyên, Quảng Ninh, cùng một lúc quân Trung Quốc chia các hướng đánh vào nhiều điểm. Hai sư đoàn Trung Quốc tiến công theo đường 10 vào Nậm Cúm, Phong Thổ (Lai Châu) và đụng độ với lực lượng vũ trang địa phương. Qua hơn 20 ngày, quân Trung Quốc vẫn bị chặn ở Phong Thổ.

Ở Hà Tuyên, một sư đoàn Trung Quốc tấn công vào các đồn chốt biên phòng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của công an vũ trang, dân quân, bộ đội các huyện Đồng Văn, Thanh Thủy, Mèo Vạc và đồng bào các dân tộc. Hơn 1.000 lính Trung Quốc thiệt mạng.

Tại Quảng Ninh, Trung Quốc dùng hai sư đoàn bộ binh tiến công vào Pò Hèn, Móng Cái, Cao Ba Lanh, huyện Bình Liêu. Trong hai ngày 19 và 20/2, hai trung đoàn Trung Quốc đã bị đánh lui, tháo chạy sát về biên giới.

Hàng vạn thanh niên Việt Nam mới 18, đôi mươi đã nằm lại nơi biên giới phía Bắc trong cuộc chiến bất ngờ chống lại quân xâm lược Trung Quốc. Ảnh tư liệu.

Hàng vạn thanh niên Việt Nam mới 18, đôi mươi đã nằm lại nơi biên giới phía Bắc trong cuộc chiến bất ngờ chống lại quân xâm lược Trung Quốc. Ảnh tư liệu.

Trung Quốc rút quân

Ngày 5/3/1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày, Trung Quốc tuyên bố “hoàn thành mục tiêu chiến tranh” và rút quân. Các nhà quan sát lúc đó cho rằng rút lui là hành động rất khó, có thể gây cho Trung Quốc nhiều tổn thất nếu bị quân tinh nhuệ Việt Nam phản công.

Ngày 7/3, thể hiện thiện chí hòa bình, Việt Nam tuyên bố cho phép Trung Quốc rút quân. 18/3, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân.

Trải qua 30 ngày chiến đấu ác liệt, các lực lượng vũ trang tại chỗ và đồng bào dân tộc 6 tỉnh biên giới Việt Nam đã dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, lấy ít địch nhiều đánh bại “chiến thuật biển người, thọc sâu phá hoại” của quân Trung Quốc. 

Theo số liệu công bố, trong hành động quân sự mưu toan phá hoại, 62.500 lính Trung Quốc (hơn 1/10 tổng số được huy động) bị hạ, 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn bị tiêu diệt, thiệt hại; 550 xe quân sự trong đó có 220 xe tăng, xe bọc thép (hơn một nửa số tham chiến) bị bắn cháy, 115 đại bác và súng cối hạng nặng bị phá hủy…Giới phân tích nhận định, thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc đã học được bài học quân sự đắt giá của chính mình.

Tuy nhiên, cuộc xâm chiếm của Trung Quốc cũng gây ra những tổn thất nặng nề cho Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, hàng chục nghìn người thiệt mạng trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ nhỏ. Hiện vẫn chưa có số liệu thống nhất về số thương vong từ phía Việt Nam (thông tin này Tòa soạn bổ sung sau khi có thắc mắc của độc giả về số liệu những người dân, chiến sĩ Việt Nam bị thiệt mạng); 400.000 gia súc bị giết và bị cướp; hàng chục nghìn ha hoa màu bị tàn phá. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân các tỉnh biên giới phía Bắc bị mất nhà cửa, tài sản.

Từ 18/3/1979 đến cuối năm 1988, Trung Quốc đã không rút hết quân như tuyên bố. Suốt gần 10 năm đó, chiến sự vẫn tiếp diễn, cao điểm nhất là năm 1984-1985. Nhiều đơn vị quân đội của Trung Quốc đã được luân chuyển tới biên giới, biến Việt Nam thành thao trường.

Việt Nam vì thế buộc phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự lớn dọc biên giới. Tình trạng chiến tranh khiến kinh tế Việt Nam thiệt hại nặng nề. 

Năm 1992, Việt Nam, Trung Quốc bình thường hóa quan hệ. Cuộc chiến biên giới phía bắc, vì nhiều lý do, trong suốt một thời gian dài đã ít được công bố.

Hoàng Thùy – Nguyễn Hưng


Hình ảnh thị xã Cao Bằng bị quân Trung Quốc bắn phá tan hoang do nhiếp ảnh gia Trần Mạnh Thường ghi lại. Khi đó, ông là cán bộ phòng biên tập ảnh của Nhà xuất bản Văn hóa được tăng cường lên biên giới phía Bắc cuối năm 1978. Từ lúc chiến sự xảy ra đến đầu tháng 3/1979, ông theo chân công an vũ trang đi khắp chiến trường Cao Bằng, ghi lại những hình ảnh chân thực của cuộc chiến 38 năm trước bằng một chiếc máy ảnh và 20 cuộn phim.

Hình ảnh thị xã Cao Bằng bị quân Trung Quốc bắn phá tan hoang do nhiếp ảnh gia Trần Mạnh Thường ghi lại. Khi đó, ông là cán bộ phòng biên tập ảnh của Nhà xuất bản Văn hóa được tăng cường lên biên giới phía Bắc cuối năm 1978. Từ lúc chiến sự xảy ra đến đầu tháng 3/1979, ông theo chân công an vũ trang đi khắp chiến trường Cao Bằng, ghi lại những hình ảnh chân thực của cuộc chiến 38 năm trước bằng một chiếc máy ảnh và 20 cuộn phim.

Bất ngờ trước sự tấn công của quân Trung Quốc, người dân thị xã Cao Bằng ngược đường quốc lộ, băng rừng di tản về hướng Bắc Kạn, Thái Nguyên. Giữa dòng người tản cư có hai chị em cõng nhau chạy nạn. Hai đứa trẻ vừa đói, vừa mệt nhưng cũng không dám nghỉ ngơi. Nhiều năm qua, ông Trần Mạnh Thường vẫn hy vọng gặp lại hai chị em trong bức ảnh.

Bất ngờ trước sự tấn công của quân Trung Quốc, người dân thị xã Cao Bằng ngược đường quốc lộ, băng rừng di tản về hướng Bắc Kạn, Thái Nguyên. Giữa dòng người tản cư có hai chị em cõng nhau chạy nạn. Hai đứa trẻ vừa đói, vừa mệt nhưng cũng không dám nghỉ ngơi. Nhiều năm qua, ông Trần Mạnh Thường vẫn hy vọng gặp lại hai chị em trong bức ảnh.

Cô bộ đội bế bé gái theo mẹ đi tản cư tại chân cầu Tài Hồ Sìn (Hòa An, Cao Bằng). Mẹ của bé trúng đạn quân Trung Quốc bị thương nặng, được bộ đội đưa về tuyến sau. "Tình hình khi ấy rất khẩn trương, ai cũng hoang mang vì không nghĩ Trung Quốc lại đưa quân tràn qua bắn phá", ông Thường kể.

Cô bộ đội bế bé gái theo mẹ đi tản cư tại chân cầu Tài Hồ Sìn (Hòa An, Cao Bằng). Mẹ của bé trúng đạn quân Trung Quốc bị thương nặng, được bộ đội đưa về tuyến sau. “Tình hình khi ấy rất khẩn trương, ai cũng hoang mang vì không nghĩ Trung Quốc lại đưa quân tràn qua bắn phá”, ông Thường kể.

Từ ngày 17/2/1979 đến 18/3/1979 khi Trung Quốc rút quân, nhiều bản làng dọc biên giới phía Bắc bị tàn phá nặng nề. Đạn pháo tầm xa phá hủy nhà cửa, trường học, bệnh viện, cầu cống, người dân bị giết hại. Cầu sông Bằng (Cao Bằng) bị quân Trung Quốc đánh sập.

Từ ngày 17/2/1979 đến 18/3/1979 khi Trung Quốc rút quân, nhiều bản làng dọc biên giới phía Bắc bị tàn phá nặng nề. Đạn pháo tầm xa phá hủy nhà cửa, trường học, bệnh viện, cầu cống, người dân bị giết hại.
Cầu sông Bằng (Cao Bằng) bị quân Trung Quốc đánh sập.

Nhà trẻ thị xã Cao Bằng chỉ còn là đống đổ nát.

Nhà trẻ thị xã Cao Bằng chỉ còn là đống đổ nát.

Trâu bò bị giết dọc đường quân Trung Quốc đi qua.

Trâu bò bị giết dọc đường quân Trung Quốc đi qua.

Chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra khi các quân đoàn chủ lực Việt Nam đang làm nhiệm vụ quốc tế, truy quét quân Khmer Đỏ ở Campuchia. Tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam trên toàn tuyến biên giới lúc này khoảng 50.000 quân, chủ yếu bộ đội địa phương, công an vũ trang và dân quân tự vệ.

Chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra khi các quân đoàn chủ lực Việt Nam đang làm nhiệm vụ quốc tế, truy quét quân Khmer Đỏ ở Campuchia. Tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam trên toàn tuyến biên giới lúc này khoảng 50.000 quân, chủ yếu bộ đội địa phương, công an vũ trang và dân quân tự vệ.

Đối đầu với đội quân đông gấp 12 lần được yểm trợ bởi hỏa lực mạnh, quân dân các dân tộc 6 tỉnh biên giới phía Bắc chủ động tổ chức chiến đấu ngay tại chỗ cầm chân quân Trung Quốc trong khi chờ quân chủ lực. Bộ Quốc phòng Việt Nam gấp rút điều động các sư đoàn bộ binh quân khu từ tuyến sau lên, quân chủ lực từ chiến trường Tây Nam trở về tham chiến.

Đối đầu với đội quân đông gấp 12 lần được yểm trợ bởi hỏa lực mạnh, quân dân các dân tộc 6 tỉnh biên giới phía Bắc chủ động tổ chức chiến đấu ngay tại chỗ cầm chân quân Trung Quốc trong khi chờ quân chủ lực.
Bộ Quốc phòng Việt Nam gấp rút điều động các sư đoàn bộ binh quân khu từ tuyến sau lên, quân chủ lực từ chiến trường Tây Nam trở về tham chiến.

Xác xe tăng Trung Quốc bị bắn gục tại bản Sẩy (Hòa An, Cao Bằng). Bộ đội bám trụ từng hốc suối, bìa rừng, đánh bật quân Trung Quốc lùi dần về phía đường biên. Báo Quân đội nhân dân số Thứ Sáu, ngày 23/2/1979 đăng "Trong 5 ngày (từ 17 đến 21/2), quân dân các tỉnh biên giới diệt 12.000 địch, diệt và đánh thiệt hại nặng 14 tiểu đoàn, bắn cháy, phá hủy 140 xe tăng, xe thiết giáp, thu nhiều súng và đồ dùng quân sự".

Xác xe tăng Trung Quốc bị bắn gục tại bản Sẩy (Hòa An, Cao Bằng). Bộ đội bám trụ từng hốc suối, bìa rừng, đánh bật quân Trung Quốc lùi dần về phía đường biên. Báo Quân đội nhân dân số Thứ Sáu, ngày 23/2/1979 đăng “Trong 5 ngày (từ 17 đến 21/2), quân dân các tỉnh biên giới diệt 12.000 địch, diệt và đánh thiệt hại nặng 14 tiểu đoàn, bắn cháy, phá hủy 140 xe tăng, xe thiết giáp, thu nhiều súng và đồ dùng quân sự”.

Để huy động sức người, sức của cho công cuộc cứu nước, ngày 5/3/1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh 29 - LCT ra lệnh tổng động viên trên cả nước. Hàng vạn thanh niên các tỉnh biên giới và toàn quốc nhanh chóng ghi danh nhập ngũ.

Để huy động sức người, sức của cho công cuộc cứu nước, ngày 5/3/1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh 29 – LCT ra lệnh tổng động viên trên cả nước. Hàng vạn thanh niên các tỉnh biên giới và toàn quốc nhanh chóng ghi danh nhập ngũ.

Các thiếu nữ dân tộc Tày chuyển lương thực cho bộ đội. Khi lệnh Tổng động viên được ban bố ngày 5/3, Trung Quốc tuyên bố rút quân vì đã "hoàn thành mục tiêu chiến tranh". Tuy nhiên, suốt 10 năm (1979-1989), chiến sự vẫn tiếp diễn ở biên giới phía Bắc, khốc liệt nhất là mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang).

Các thiếu nữ dân tộc Tày chuyển lương thực cho bộ đội.
Khi lệnh Tổng động viên được ban bố ngày 5/3, Trung Quốc tuyên bố rút quân vì đã “hoàn thành mục tiêu chiến tranh”. Tuy nhiên, suốt 10 năm (1979-1989), chiến sự vẫn tiếp diễn ở biên giới phía Bắc, khốc liệt nhất là mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: