• KHÚC HÁT QUÊ TÔI

  • GIẬN MÀ THƯƠNG

  • TẶNG VỢ YÊU !

  • H.CƯỚI ĐỨC-TẶNG

  • HÌNH ẢNH BOBO

  • KH. HÁT SÔNG QUÊ

  • Categories

  • Trao đổi trực tuyến với Hồng Sinh tại đây !

  • Bạn thích và muốn tự học môn Khiêu vũ hãy bấm vào đây!

  • Tìm hiểu dịch vụ do Hồng Sinh cung cấp bấm vào đây !

  • Bài viết mới

  • Hình ảnh thị xã Cao Bằng bị quân Trung Quốc bắn phá tan hoang do nhiếp ảnh gia Trần Mạnh Thường ghi lại. Khi đó, ông là cán bộ phòng biên tập ảnh của Nhà xuất bản Văn hóa được tăng cường lên biên giới phía Bắc cuối năm 1978. Từ lúc chiến sự xảy ra đến đầu tháng 3/1979, ông theo chân công an vũ trang đi khắp chiến trường Cao Bằng, ghi lại những hình ảnh chân thực của cuộc chiến 38 năm trước bằng một chiếc máy ảnh và 20 cuộn phim.

  • Cô bộ đội bế bé gái theo mẹ đi tản cư tại chân cầu Tài Hồ Sìn (Hòa An, Cao Bằng). Mẹ của bé trúng đạn quân Trung Quốc bị thương nặng, được bộ đội đưa về tuyến sau. "Tình hình khi ấy rất khẩn trương, ai cũng hoang mang vì không nghĩ Trung Quốc lại đưa quân tràn qua bắn phá", ông Thường kể.

“ĐẠI BÀNG” RŨ CÁNH.

“ĐẠI BÀNG” RŨ CÁNH

– Thời niên thiếu của một giang hồ: Kỳ 1

 – Giang hồ lấy võ đài giải quyết ân oán: Kỳ 2.

 – Số má giang hồ của Đại Cathay. Kỳ 3

–  Bí ẩn quanh cái chết của Đại Cathay. Kỳ 4

– Giang hồ Sơn “đảo” bị giết như thế nào: Kỳ 5.

– Dấu chấm hết cho giang hồ Sài Gòn: Kỳ 6.

Theo: LÊ BÌNH – HỒNG CƯỜNG (Công an TP.Hồ Chí Minh)

Nguồn:  hcm.24h.com.vn :

***

Thời niên thiếu của một giang hồ

Ngay từ những năm 1975, đất Sài Gòn đã sản sinh ra những tay giang hồ, du đãng cộm cán làm khuynh đảo đời sống của người dân.

Đó là một số cái tên như Trần Đại (Đại Cathay), Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái, Ba Thế, Minh “Cầu Muối”… Còn về giang hồ người Hoa cát cứ ở khu vực Chợ Lớn và một số địa bàn ở hướng tây thành phố thì có: Tín Mã Nàm (con ngựa điên), Lục Chỉ, Sám Sò, Xây Tỷ, Hải Phùng Kin, Xú Hùng… Trong số đó, Chà Và Hương (tên thật là Ngô Văn Hương, SN 1940) – một đại ca có số má – hiện là nhân chứng sống phản ánh đầy đủ bản chất của giới giang hồ trong bối cảnh xã hội thời đó. Hương từng kết nghĩa giang hồ với Đại Cathay, sống chung với Sơn Đảo, bảo kê cho hàng loạt sòng bạc của Hải Phùng Kin, Tín Mã Nàm, Năm Thông Lợi, Hai Niệm… Sau giải phóng, Chà Và Hương đã được tập trung giáo dục, ông trở thành cố vấn võ thuật cho liên đoàn võ thuật cổ truyền TPHCM. Bước sang tuổi “cổ lai hy”, được Năm Cam mời tham gia tổ chức của hắn nhưng ông không đồng ý mà dọn về ở ẩn tại Củ Chi với cuộc sống bình thường của nghề bốc thuốc, châm cứu.

Kỳ 1: Thời niên thiếu của một giang hồ

Những năm 1970, giới giang hồ Sài Gòn – Chợ Lớn thường tổ chức lôi đài cho các võ sĩ thi đấu tự do để lấy tiền. Ngoài việc “thâm canh ma túy” và “mua quan bán tước” ra thì đây là cách kiếm tiền dễ dàng nhất. Mạnh ai nấy đấu, không cần phải phân biệt hạng cân, độ tuổi, võ phái. Các đấu thủ muốn so tài với ai thì nhìn mặt chỉ đích danh người đó. Có thể nói, sự bất lực của bộ máy chính quyền chế độ cũ khiến cho tình hình xã hội bấy giờ rất phức tạp, bầu không khí ngột ngạt, bạo lực và chết chóc bao trùm lên cuộc sống người dân. Từ Sài Gòn đến Tây Ninh, từ miền Đông Nam bộ xuống tận lục tỉnh Nam kỳ nơi nào cũng có lôi đài đấu võ. Kèm theo đó, võ đường mở ra rất nhiều và thanh niên theo học võ cũng rất đông, mục đích chủ yếu là đánh nhau kiếm tiền. Trong giới cao thủ đương thời vẫn truyền nhau câu nói về “cặp chân Sáu Nhỏ, cặp chỏ Chà Và Hương”. Nếu như lôi đài nào có sự tham gia của hai cao thủ này thì sẽ thu bộn tiền của dân cá cược.

Chà Và Hương gốc ở Hóc Môn – Sài Gòn nhưng sinh ra tại Bình Đức – Long Xuyên – An Giang, là con thứ năm trong một gia đình có 8 anh em. Vì lai gốc Ấn Độ nên mọi người thường gọi là Chà Và Hương. Khi lớn lên thất lạc mất bốn người anh em, Hương lên Sài Gòn. Học đúng ba năm nhưng không viết nổi một chữ cái nên hằng ngày, mẹ bán bánh tét, theo sau tập nghề đánh giày. Nghề đánh giày không đủ nuôi thân bởi mỗi đôi giày được 3 đồng, trong khi giá một đĩa cơm đã 1,5 đồng. Tiền làm ra bị bọn bảo kê trấn lột hết. Và cũng như các “đại ca” nổi tiếng khác, chính cái nghề “cắp tráp rửa hia” cũng là bước “nhập môn” cho Hương bước chân vào thế giới gang hồ, du đãng, sống lang thang ở ga xe lửa Bà Chiểu.

Sau nhiều trận đánh sứt đầu mẻ trán để chiếm lĩnh địa bàn đánh giày, Hương đã gặp được Sáu Nhỏ (sau này là Trần Văn Trọng ở Đakao). Cả hai, ngày đánh giày kiếm sống tạm bợ, tối về được ông từ gác miếu ở Đakao cho cơm ăn và chỗ ngủ tạm ngay trong miếu. Tại đây, gặp được một đối tượng khác tên Cà Na là một kẻ du côn khu vực Tân Định. Cà Na mồ côi cha mẹ, tóc quăn, da đen, thân hình nhỏ con nhưng rất lì lợm. Trong một lần có cuộc đua xe đạp từ Sài Gòn lên Trảng Bàng – Tây Ninh, cả ba mang tráp dụng cụ chạy bộ theo đoàn đua lên Tây Ninh và ở lại Trảng Bàng mấy đêm liền. Cũng trong dịp này, ở Trảng Bàng có tổ chức lôi đài đấu võ để dân chơi cá cược ăn tiền, tuy không ai biết võ vẽ thế nào nhưng đám “nhóc tỳ” này cũng xin tham gia thi đấu để kiếm tiền. Ngày đó thi đấu võ không phải tính theo trọng lượng thứ hạng mà chỉ mặt để tìm đối thủ, muốn đánh nhau thì lên võ đài, dễ kiếm tiền như lấy đồ trong túi. Do không xuất thân từ lò võ nào nên nhóm của Hương, Sáu Nhỏ, Cà Na thi đấu chỉ tính từ hòa đến thắng, không bao giờ bị xử thua. Thắng thì được thưởng 400 đồng, còn thua cũng nhận được 300 đồng. Cà Na do lì đòn nên đã thắng được võ sĩ Ba Tăng (tức Văn Tâm, học trò của võ sư Văn Hai ở Thị Nghè). Chà Và Hương đấu với võ sĩ Cao Thành Hai, đệ tử của võ sư Cao Thành Sang và hậu quả bị đánh nhừ tử. Còn Sáu Nhỏ thì khỏi nói, bầm dập toàn thân, đứng không vững.

Trong trận lôi đài đó có nhiều cao thủ Sài thành tham dự. Sau khi trận đấu kết thúc, Cà Na té khỏi sới thì một người đàn ông xuất hiện hỏi: “Con là học trò của ai?”. Không ngần ngại, Cà Na trả lời là “học trò của Huỳnh Tiền”. Người đàn ông kia giật mình bởi ông ta chính là võ sư Huỳnh Tiền và trong đám đệ tử của mình không có đứa trẻ này. Rồi sau đó, cũng nhờ sự láu cá, Cà Na cũng được võ đường Huỳnh Tiền nhận làm đệ tử với tên gọi Huỳnh Sơn. Còn Hương và Sáu Nhỏ do bị đòn quá nặng nên được trung tá Hoàng – quận trưởng Trảng Bàng cho 300 ngàn, nhà thuốc Võ Văn Vân cho 2 chai thuốc bổ trị giá khoảng 300 ngàn.

Thời niên thiếu của một giang hồ, An ninh - Hình sự, giang ho, trum giang ho, ong trum, dai ca, chem giet

Chà Và Hương (bìa phải) làm cố vấn cho liên đoàn võ thuật cổ truyền TPHCM

Sau trận thượng đài đầu tiên ở đất Trảng Bàng, Chà Và Hương được một người tên Tú (biệt danh Moustadia) đưa về giữ chuồng bò sữa tại Bà Quẹo. Tú cũng là người học võ, tuyệt kỹ của anh ta là những cú đá mạnh có thể làm chết con bò. Hương vừa trông bò vừa học võ, thời gian sau đưa thêm Sáu Nhỏ đến đây học võ. Sau một thời gian, Hương được cha mẹ đưa về học chữ tại khu vực hẻm chùa Long Vân – Bà Chiểu (nay là P24, Q.Bình Thạnh). Học chữ mãi không được nhưng bản chất giang hồ đã hình thành và bắt đầu ăn vào máu. Hương thấy võ thì mê và nghĩ rằng không có nghề gì dễ kiếm tiền bằng… đấm đá nên đã xin gia nhập võ quán của võ sư Lê Quảng Đại lấy tên là Lê Phi Hoàng.

Năm 1959, nhân hội thi võ Thị Nghè, Chà Và Hương được đăng ký thượng đài với võ sư Óp Bi Đơ (võ sĩ người Campuchia). Trong trận đấu đó, khi hiệp đấu thứ hai kết thúc, Hương bị quần tơi tả, nhưng được bản chất lì lợm nên khụy xuống lại cố đứng dậy để không bị thua. Lúc này dưới khán đài, vợ của võ sư Lê Quảng Đại thấy vậy nóng ruột liền thét lên: “Mày đánh thế nào tao không biết, nhưng mày không thực hiện được cú đá của Moustadia thì đừng về nhà nữa”. Sức không có, chịu đòn không nổi, huống gì dùng lực đá phản công đối phương, tuy nhiên trong lúc tưởng như cầm chắc phần thua, Chà Và Hương đã sử dụng cặp cùi chỏ vô cùng nguy hiểm của mình để hóa giải đòn của đối thủ và cuối cùng hạ được võ sĩ Óp Bi Đơ với một cú nốc ao quyết định bằng cặp cùi chỏ trời giáng vào đầu.

***

Giang hồ lấy võ đài giải quyết ân oán

             

Chà Và Hương trong một lễ hội võ thuật tại quận 7

 Lúc bấy giờ, việc đấu võ diễn ra hầu như khắp nơi, nổi tiếng nhất là sới võ lưu động của ban tổ chức Lê Ngọc Sánh. Võ sĩ thì ít trong lúc đám giang hồ du đãng đăng ký rất nhiều. Người thượng đài chỉ việc chọn mặt chọn đối thủ thách đấu, không phân biệt trọng lượng, tuổi tác. Có thể nói đấu võ đài lúc bấy giờ mang yếu tố thanh toán ân oán giang hồ là chủ đạo.

 Kỳ 2: Tung hoành ngang dọc

 Sau khi giành thắng lợi trước đối thủ Óp Bi Đơ, trên đường về nhà thì Chà Và Hương được một người bạn cảnh báo: sư mẫu (vợ của võ sư Lê Quảng Đại) đang cầm chổi chờ trước cửa nếu mày về bà ấy sẽ đánh chết không cho vào đâu. Nghe thế, Hương một phần vừa bị đòn, mặt khác vì tự ái nên quyết định bỏ võ đường của võ sư Lê Quảng Đại, bỏ luôn họ Lê chỉ còn lại tên Phi Hoàng. Cũng từ trận đấu với Óp Bi Đơ, với cặp cùi chỏ thiên bẩm của mình, Hương được một người Pháp gốc Việt tên Kít Đăm Xây nhận về dạy quyền Thái. Kít Đăm Xây từng sống và thượng đài tại Pháp, sau này lưu lạc ở Thái trước khi về Việt Nam.

Qua một thời gian theo học võ, trong dịp Lâm Tấn Phát tổ chức hội chợ Quang Trung tại Hóc Môn, Chà Và Hương đăng ký tham gia và được xếp lịch đấu với Lê Hoàng Thọ (là đồng môn một thời trong lò võ Lê Quảng Đại) và được xử hòa. Nhưng bắt đầu từ đây Hương theo luôn ban tổ chức võ đài lưu động Lê Ngọc Sánh, ăn cơm võ đài, rong ruổi khắp nơi, kiếm tiền tiêu từ võ đài và tiếng tăm bắt đầu nổi cùng những trận đấu với bậc võ sư tiếng tăm của lục tỉnh miền Tây Nam bộ.

Từng so găng với võ sĩ Thành Đô ở Tân Hiệp Rạch Giá, khi trận đấu mới chỉ được hơn một phút thì Hương buộc đối thủ phải lột găng xin thua khiến tiếng tăm nổi như cồn. Đến đất Long Xuyên thì gặp Cao Thành Hai (người từng đánh Hương một trận nhừ tử ở Trảng Bàng mấy năm trước), nhưng lần này võ sĩ Thành Hai không chấp nhận thách đấu. Tại Mỹ Tho đụng với võ đường Hồng Nga, đến Bến Tre đụng với võ sĩ Nguyễn Hữu Tiết (người Long Xuyên) và võ sĩ Nguyễn Thành Tý. Đến Rạch Giá – Kiên Giang, Hương thượng đài với Danh Ngâu, người gốc Campuchia – mệnh danh “con hùm xám miền Tây” và giành được những thắng lợi giòn giã. Sau đó về Trà Ôn đêm đầu tiên Hương đấu với võ sĩ Nguyễn Khiêm và đêm sau là võ sư Nguyễn Khâm. Đây là lần đầu tiên đấu với võ sư nên Chà Và Hương được sư phụ Kít Đăm Xây gọi vào phòng riêng đưa một loại thuốc gọi là Trô – bin. Kít Đăm Xây đã nói rằng đây là loại thuốc quý mà ông ta từng sử dụng nhiều lần ở Pháp công dụng thì khỏi phải nói, “đến con ngựa đua khi được chích thuốc vào chạy đứt ruột còn không biết huống gì con người chỉ mấy phút thượng đài”. Ông ta dặn Hương rằng: “Việc này chỉ có hai người biết nếu có người thứ ba hay chuyện thì chỉ có mày nói ra mà thôi và lúc đó hậu quả không ai có thể gánh nổi”.

Quả thật loại thuốc này có công dụng thần kỳ, đối thủ nhìn thấy máu thì sợ, còn Hương trong ảo giác khi nhìn thấy máu thì rất hưng phấn. Cho đến sau này Hương mới biết không chỉ mình anh ta được Kít Đăm Xây cho dùng loại thuốc đó mà cả Sáu Nhỏ khi về học võ cũng được ông ta cho dùng với cách tương tự. Do không từ bỏ được thuốc nên Sáu Nhỏ đã sa vào nghiện ngập, sau giải phóng ông ta đã chết ngồi trong một chung cư cũ nát tại Q4 khi đang hành nghề xích lô.

Sau lần giành thắng lợi trước võ sư Nguyễn Khâm, vì không được giới võ thuật tại địa phương đồng tình nên nhiều nhóm người đã tìm cách trả thù, Hương đã được quận trưởng quận Trà Ôn cho người dùng bobo chở về bắc Cần Thơ để lánh nạn. Chính võ sư Nguyễn Văn Thọ, người từng vô địch 21 tỉnh miền Tây lúc bấy giờ nhận định: “Chà Và Hương tuy gầy gòm nhưng ai cũng sợ, nhất là cặp cùi chỏ của nó”. Tiếp đến là việc lấn địa bàn ra vùng miền Đông, hai thầy trò Kít Đăm Xây và Chà Và Hương đánh nhau với võ sĩ Văn Hai thường gọi là Hai Néo (lính không quân); đụng độ với võ sư Xuân Bình – chủ lò võ Xuân Bình ở rạp hát Biên Hùng (Biên Hòa). Đến Nha Trang thượng đài và giành thắng lợi trước lò võ Thành Đô – Nha Trang, đến Phan Rang đánh với Nguyễn Ninh, đến Buôn Mê Thuột thì đánh với võ sư Châu Long trận thượng đài cuối cùng tại đất võ Quy Nhơn là một sự kiện đáng nhớ khi Chà Và Hương đã bước sang tuổi 31. Đây là trận thách đấu với võ sư Hà Trọng Sơn tại sân vận động Nguyễn Huệ TP. Quy Nhơn. Võ sư Sơn đã nhận lời nhưng lại không đấu trực tiếp mà cho con trai là Hà Trọng Khôi thượng đài. Khôi là lính trinh sát thuộc sư đoàn 22 lính cộng hòa. Trước trận đấu, Hương tuyên bố dù thua hay thắng thì đây cũng là lần cuối cùng đấu võ đài.

Sự kiện võ thuật này thu hút sự quan tâm của người dân đất võ khi cả sân vận động kín mít không còn một chỗ đứng. Trên khán đài còn có sự chứng kiến của thị trưởng thành phố Quy Nhơn. Trận đấu chỉ diễn ra được hơn một phút thì võ sĩ Hà Trọng Khôi không thể chịu nổi và liên tục bị dính đòn. Biết không thể cầm cự trước sự tấn công dồn dập của “cặp cùi chỏ” vang danh Nam bộ, võ sư Sơn đã vứt khăn xin thua trận cho võ sĩ Khôi nhưng Khôi không đồng ý và nhặt khăn bỏ xuống võ đài. Thị trưởng thành phố Quy Nhơn yêu cầu bác sĩ Ngyễn Văn Tâm kiểm tra và ra hiệu cho trọng tài ngừng trận đấu vì Khôi bị thương quá nặng. Ngay lập tức lính sư đoàn 22 đã tràn lên bao vây võ đài, chúng yêu cầu xét găng tay của Hương. Dù không thấy gì bất thường nhưng đám đông này vẫn kích động hè nhau lao vào vây đánh túi bụi. Hương được đám quân cảnh giải vây chở bằng máy bay đưa về bệnh viện Nguyễn Huệ ở Nha Trang để chữa trị. Trong chuyến bay đó Hương đã gặp cô gái 16 tuổi tên Tôn Nữ Thị Yên. Chưa hết bệnh, Hương trốn bệnh viện quay lại tìm người yêu và một lần nữa bị nhóm người của sư đoàn 22 vây chém. Sau lần đó Hương đã đem lòng yêu thương kết hôn với Yên. Sau giải phóng, đôi vợ chồng này bị thất lạc suốt 30 năm trời. Họ vừa gặp lại nhau cuối năm 2005 khi bà Yên từ Mỹ quay về tìm chồng.

Như vậy trong hơn 10 năm thượng đài với hàng trăm trận đấu, Chà Và Hương chỉ bị thua duy nhất một lần trước võ sư Nguyễn Lâm tại sân Tinh võ Q5 – Sài Gòn nhưng sau đó lại thắng võ sư này ở sân chùa Bà – Phan Thiết. Sau khi giải nghệ đánh đấm, Chà Và Hương bắt đầu về mở lớp dạy võ tại Cầu Sơn (nay ở QL13 P24, Q.Bình Thạnh) và truyền thụ võ nghệ cho một loạt những tên tuổi nổi tiếng sau này. Bắt đầu từ đây, Hương dấn thân vào con đường giang hồ bảo kê, đâm chém.

***

Số má giang hồ của Đại Cathay

         

Vua của các đại ca giang hồ là Trần Đại – Đại Cathay

 Từ bỏ lôi đài, Hương tập hợp đệ tử bắt đầu quá trình bảo kê, tranh giành lãnh địa làm ăn với các thế lực xã hội đen. Nhờ tiếng tăm của mình, Hương đã kéo về dưới trướng hàng chục tay giang hồ để tạo vây cánh bảo kê một loạt các nhà hàng, vũ trường, quán bar, tụ điểm ăn chơi… từ TPHCM ra đến Biên Hòa – Đồng Nai.

Kỳ 3: Câu chuyện về Đại Cathay

Trong số các đệ tử máu mặt của Chà Và Hương (tự Phi Hoàng) có Phi Long (Tạ Văn Hường), Phi Hổ (Lê Văn Hậu), Phi Hải (Lê Văn Phước), Phi Hùng (Lâm Văn Phi) và nữ võ sĩ Cẩm Huê, Cẩm Hồng… được giới giang hồ gọi “ngũ hổ tướng” đánh đấm quậy phá khắp nơi.

Thời điểm bấy giờ, giang hồ đất Sài Gòn có bốn cao thủ “tứ đại thiên vương” gồm Đại – Tỳ – Cái – Thế (Đại Cathay, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Ba Thế). Trong đó, Đại Cathay được xếp đầu bảng và mệnh danh và “vua của các đại ca giới giang hồ”. Bên cạnh đó, các tổ chức băng nhóm giang hồ người Hoa hoạt động tại khu vực Chợ Lớn có băng “Hắc đạo” do Tín Mã Nàm (con ngựa điên) cầm đầu. Dưới tay của Mã Nàm có những cao thủ như Lục Chỉ, Sám Sò, bên cạnh đó còn có một tay giang hồ khét tiếng trong giới cờ bạc Hoa kiều đó là Hải Phùng Kin. Xét về tổng quan, tập đoàn tội phạm của Trần Đại (Đại Cathay) là có uy thế nhất.

Năm 1959, trong lần tổng động viên thu gom các đối tượng giang hồ của chính quyền chế độ cũ với mục đích “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn pháp luật”, Chà Và Hương đã gặp Trần Đại trong “trại tế bần” ở cầu Chữ Y, Q8. Gọi là trại tế bần nhưng thực chất là điểm tập trung nuôi cơm báo cô đối với những thành phần “du thủ du thực, cô hồn cát đảng” đang thịnh hành trong xã hội rối ren, mục ruỗng lúc bấy giờ. Lúc đó Đại chưa nổi tiếng như sau này, hắn nhỏ con, ít nói, nhìn có vẻ hiền lành nhưng thực ra rất lì lợm và liều mạng đến mức ghê sợ. Nếu giải quyết mâu thuẫn mà đối phương mang dao ra hù dọa thì Đại nhất quyết chưa thấy máu sẽ không bao giờ về. Trong trại tế bần ngày đó hình thành hai phe nhóm, đó là nhóm du côn người Hoa và du côn người Việt. Những trận đụng độ nảy lửa của hai phe khiến đội quản lý không thể khống chế được. Bọn chóp bu cai trại nghĩ ra mọi cách để hợp lý hóa những trận đánh nhau loạn xạ trong trung tâm giáo dưỡng này. Và phương pháp cho một chọi một là tối ưu hơn cả vì không gây ồn ào, náo loạn toàn khu vực. Vì Đại nhỏ con lại lì lợm nên đám tiểu yêu người Hoa rất ghét, cứ đến lượt Đại lên đấu thì chúng đưa ra những tên đầu lớn tay to để mục đích dần cho Đại những trận ra hồn, dằn mặt được Đại là sẽ khống chế được đám du đãng người Việt. Và cứ mỗi lần Đại bị đánh lăn kềnh ra đất, Chà Và Hương lại nhảy lên sới đài để cứu giúp. Sau nhiều lần như thế Hương và Đại đã kết nghĩa giang hồ, sau này cùng ngụ tại đường hẻm ve chai sau rạp hát Cathay.

Theo lời Chà Và Hương, nếu còn sống bây giờ chắc Đại cũng khoảng hơn 70 tuổi, quê gốc ở miền Trung, nói giọng lơ lớ vùng Nghĩa Bình (Quảng Ngãi – Bình Định), cha tên là Lê Văn Cự chết sớm, mẹ lấy chồng ở Q4, dượng ghẻ là kẻ thô lỗ lại nghiện hút nên từ nhỏ Đại sống với bà nội và chứng kiến không biết bao nhiêu mặt đen tối của cuộc đời. Hương về sống với Đại ngày đi đánh lộn, đêm ngủ lề đường và được một chủ quán cơm tên Ba Chó cho ăn hằng ngày. Có thể nói rằng, trước năm 1970, Đại Cathay là kẻ duy nhất có thể đứng ra thống lĩnh giới giang hồ du đãng. Không những tập trung các tay anh chị đầu trâu mặt ngựa mà Đại còn thu phục về dưới trướng mình rất nhiều các đối tượng có học hành, nghệ sĩ… để “xã hội hóa” tập đoàn tội phạm của mình. Trong đó phải nói đến những kẻ con nhà giàu học ở trường Tây như: Hùng “đầu bò”, Hoàng sayonara (người móc classic bản này rất hay).

Giới giang hồ thời điểm này, do du nhập lối sống phương Tây nên rất mê nhảy đầm, cặp bồ với các văn nghệ sĩ, tài tử… Không những đại ca giang hồ mà giới tướng lĩnh của chế độ cũ cũng chạy theo trào lưu thời thượng này. Một trong những người mê nhảy đầm là tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ. Trong một lần gặp nhau trên sàn nhảy, Đại Cathay thể hiện sự ngông nghênh của mình nên bị Nguyễn Cao Kỳ (lúc đó còn mang hàm trung tá không quân) nhắc nhở. Không ngờ sự thể hiện uy quyền này đã bị thoi một quả đấm trời giáng vào bụng. Giữa tiếng nhạc và từng động tác uốn éo của các vũ nữ, bạn bè đồng liêu, Kỳ “râu kẽm” tái mặt tức tối nhưng không nói câu nào. Dồn nén nhiều hiềm khích với các tướng lĩnh ngụy quyền khác, diễn biến sau này của Đại Cathay không thoát khỏi bản án tử được tuyên ngày hôm đó.

Thời gian sau khi giải nghệ võ đài, Hương bắt đầu tập hợp đàn em tham gia giới giang hồ bảo kê kiếm tiền. “Ngũ hổ tướng” cùng với hàng trăm đệ tử bảo kê hầu hết các quán bar nằm nhan nhản trên đường Tự Do và Hai Bà Trưng như Karina Bar, Fuji Bar, Ok Bar, Thanh Thanh Restaurant (của gia đình Tướng Mai Hữu Xuân), Jackaline Bar… Còn Đại Cathay thì bảo kê các sòng bài của Hải Phong Kin, Da Heo, Đại Thế Giới…

Nói tóm lại, ngoài nhóm Hắc Đạo của Tín Mã Nàm còn một số sòng bạc tại khu vực Q5, Chợ Lớn thì hầu như toàn bộ lãnh địa hái ra tiền đều đã rơi vào tay của Đại Cathay. Sự uy quyền của Đại trong thời điểm này là không đối thủ. Tại nhà hàng Đại Nam và Melody tại Chợ Lớn có ba “đại gia” được dành 18 cái ghế sắp thành ba hàng. Hàng ngày nếu những người này không đến thì phải để ghế trống không ai được ngồi. Hàng sáu cái ghế thứ nhất là của cậu Ba Huy (Công tử Bạc Liêu); hàng sáu cái ghế thứ hai là của Đại Cathay và hàng sáu cái ghế thứ ba là của trung tá Lê Hằng Minh – tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Trâu Điên khét tiếng. Khi Đại và đàn em đến bất cứ quán bar, sàn nhảy nào đều được giảm giá hoặc không tính tiền, có nhiều ông bà chủ còn coi sự hiện diện của Đại là niềm vinh dự cho cơ sở kinh doanh của mình. Có nhiều ông chủ kinh doanh giàu có cũng đã âm thầm tài trợ hàng tháng cho đám côn đồ du đãng này để được hậu thuẫn trong nhiều phi vụ làm ăn.

Còn về Chà Và Hương, khi thấy mảnh đất màu mỡ nội thành đã dần bị thôn tính, Hương đã tiến về phía đông mà trọng điểm là địa bàn Biên Hòa. Tại đây, Hương đã sớm gặp phải sự kháng cự quyết liệt của đại ca Út Lai (vua giang hồ vùng Biên Hòa – Long Khánh). Nhiều trận chiến kinh hoàng nổ ra và cuối cùng, được sự dàn xếp của nhiều trùm băng nhóm khác, Hương và Út Lai đã hòa giải và Lai chấp nhận phân chia thị phần bảo kê các tụ điểm vui chơi tại Biên Hòa cho Hương. Thời điểm đó một số lính Mỹ khi đổ bộ đồn trú tại đây cũng bắt đầu xưng hùng xưng bá. Các trận thư hùng của giang hồ người Việt với “giang hồ mũi lõ” xảy ra thường xuyên.

Trong một trận đâm chém tại dốc Sỏi – Biên Hòa, hai trong số bốn tên lính Mỹ đã bị giang hồ chém chết. Người Mỹ phản ứng dữ dội, buộc ban chỉ huy vùng ba chiến thuật của ngụy quân phải ráo riết tiến hành tìm cho ra thủ phạm để khỏi ảnh hưởng mối quan hệ “bang giao”. Tướng Đỗ Cao Trí chỉ huy vùng ba chiến thuật lúc bấy giờ đã triệu tập các trùm băng nhóm trên địa bàn phát lệnh: nếu không tìm ra thủ phạm thì tất cả quán bar sẽ bị dẹp hết. Qua gần ba tháng trời tìm kiếm vẫn không bắt được hung thủ nên quân đội ngụy đã dẹp phần lớn các quán bar liên quan đến những cơ sở kinh tài của các băng nhóm giang hồ. Chà Và Hương dẫn quân quay về Sài Gòn nhưng lúc này, đám lính nhái của hải quân khu vực Bạch Đằng gồm Trâu Nhị, Trọng Tấn, Minh Móm, Bình Nhái hầu như làm chủ lãnh địa cũ của Hương.

***

Bí ẩn quanh cái chết của Đại Cathay

Các đại ca giang hồ Sài Gòn trong một buổi tiêu khiển

           Có thể nói, trong thời điểm tranh tối tranh sáng, nhiều tướng lĩnh quân đội vì bất lực trong việc dẹp loạn du đãng nên dựa vào các đại ca giang hồ để “dĩ độc trị độc”. Nhưng giới giang hồ có những cách cư xử riêng mà trong bối cảnh mục ruỗng thời bấy giờ, pháp luật chỉ là “chất xúc tác” để tô vẽ và khẳng định thêm số má của bọn du đãng mà thôi.

Những năm tháng niên thiếu cho đến khi xưng hùng xưng bá trong giới giang hồ, Trần Đại (Đại Cathay) luôn tỏ ra là một người nghĩa hiệp. Hắn không hề biết chữ, nhưng sự láu cá trong cuộc đời đã dạy cho hắn cách đối nhân xử thế. Tuy lãnh địa nhiều, màu mỡ nhưng Đại không thể nào quản lý hết vì không biết chữ. Dưới trướng Đại có hai nhân vật “Ba Chó – là người thường xuyên cho Đại và Chà Và Hương ăn cơm thời niên thiếu nên được Đại rất tin cẩn giao viết giấy thu tiền của các sòng bạc do người Việt làm chủ.

Đối với việc thu tiền tại các khu Hoa kiều thì do Tài “ngạnh” rất giỏi tiếng Hoa viết. Chữ ký của Đại cũng là một giai thoại truyền nhau trong giới giang hồ lúc này. Chính Chà Và Hương và Đức “rê mông” đã dạy cho Đại cách ký tên. Theo ông Hương kể lại, Đại khá thông minh, chỉ cần nói một lần là hiểu. Trong một lần đi Đà Lạt, Hương đã hướng dẫn chữ “Đ” giống như chiếc cung của người thượng quay ngược lại. “Chữ “A” giống như hình biển báo giao thông và gạch ngang giữa. Còn chữ “I” là một thanh sắt cắm từ trên xuống đất rồi đóng một cái đinh vào phía dưới. Đó là tên của mày”.

Chỉ nói một lần, Đại hiểu ngay và từ đó mỗi lần thu tiền bảo kê, Đại chỉ cần ký vào tờ giấy viết sẵn và đệ tử chỉ việc cầm đến lấy tiền. Có một lần nhóm đệ tử thân tín gồm Năm Công, Hiếu “mặt mâm”… qua mặt giả chữ ký của Đại thu tiền tại một sòng bài. Tuy nhiên, chữ ký giả này đã bị phát hiện và Năm Công, Hiếu “mặt mâm” bỏ trốn luôn không dám ra mặt. Chỉ sau khi Đại bị tổng động viên và mất tích tại Côn Đảo, thì chúng mới dám xuất hiện. Đại rất phóng khoáng, do vậy mỗi lần hắn ngồi đánh bạc ở đâu là nơi đó đám du đãng, nghiện ngập tập trung vất vưởng bên ngoài để chờ được bố thí. Có những đối tượng quê tận An Giang sau khi mãn hạn tù cũng đến rạp Cathay để tìm Đại xin tiền mua vé xe về quê. Dường như muốn tỏ ra là một trùm giang hồ hiệp nghĩa có người đã được hắn cho tiền mua luôn chiếc xe máy để làm phương tiện đi về. Mỗi lần sắp xâm lấn lãnh địa nào, Đại luôn tìm đến làm trước công tác “chính trị, nhân đạo” để thu phục nhân tâm trước khi vào bảo kê cai trị. Có kẻ gặp may đã được hắn cho tiền mở cả sạp hàng.

Những năm trước 1970, dân đại gia Sài thành thường tổ chức những khu vui chơi rất hoành tráng. Một trong những điển hình trong cách ăn chơi đó là “Hầu Cung” tại Chợ Lớn do người Hoa đứng ra tổ chức. Chỗ này chỉ dành riêng cho các tướng lĩnh và những người cực giàu, còn đối với dân giang hồ thì chỉ có Đại mới có tiền và “uy” để đến được nơi này. Hay nói đúng hơn, Đại giống như một con ngáo ộp mà ai cũng phải nể sợ. Khi xe của Đại xuất hiện sẽ có người mở cửa ngay tức thì. Hương cũng đã nhiều lần đi cùng Đại vào tiêu khiển ở đây.

Vào đây thượng khách sẽ được phục vụ theo kiểu “nhất dạ đế vương”. Khi đại gia có yêu cầu thì muốn hóa thân vào bối cảnh của hoàng đế đời nào cũng được, nhất là mỹ nữ. Đại sống cũng rất khác người, chuyên mặc quần áo Jeans, cổ đeo dây chuyền to tướng, mái tóc bồng bềnh và đặc biệt không bao giờ đi giày tây kể cả trong lúc nhảy đầm. Hắn nghĩa hiệp nhưng cũng rất ngang tàng không sợ bất kỳ ai. Chính sự nổi tiếng đó đã giết Đại. Việc bắt Đại trong đợt tổng động viên du đãng ra Phú Quốc năm 1966 để kết liễu cuộc đời hắn cũng có bàn tay đen của các tướng lĩnh quân đội Sài Gòn. Đại ngang tàng nên hắn đã quên rằng mình từng gây hấn với Nguyễn Cao Kỳ trên sàn nhảy (lúc này ông Kỳ trở thành tướng và giữ chức vụ quan trọng trong ủy ban hành pháp trung ương). Đại lại từng thẳng thừng từ chối lời mời cộng tác của tướng Nguyễn Ngọc Loan trong việc giúp bình định các băng đảng giang hồ cát cứ nên việc Đại bị “buộc phải chết” sẽ chỉ là vấn đề thời gian.

Trong đợt tổng động viên này, Hương và Đại đều có trong danh sách của tướng Nguyễn Ngọc Loan nhưng do Chà Và Hương trước đây nổi tiếng với chuyện đấu võ lôi đài nên đã được ông Toàn – trưởng ban Hàng Keo Gia Định bảo lãnh đưa về làm tài xế kiêm bảo vệ. Hôm gửi giấy triệu tập Đại, Loan đã lệnh cho đại úy Chi mang giấy gọi đến tận nhà. Khi đó Đại không có mặt ở nhà mình trên đường Hồng Thập Tự (đường Nguyễn Thị Minh Khai bay giờ) mà đang hút thuốc phiện ở chỗ một người quen. Nghe nói có công sai tìm mình, Đại liền hỏi: ông Loan mời tôi hay triệu tập bắt? Rồi hắn nói thêm: “Nếu bắt thì đưa còng số 8 vào đây, còn nếu mời thì 30 phút nữa tôi sẽ có mặt tại Tổng nha cảnh sát”. Đại úy Chi chạy về Tổng nha báo lại cho Loan biết và đúng 30 phút sau thì thấy xe của Đại chạy đến. Không hiểu sao, khi đến cửa Tổng nha cảnh sát, hắn tháo van xì hơi hết bốn bánh xe rồi rú ga chạy vào khiến bụi bay mịt mù, cao su cháy khét lẹt. Tướng Loan ra đón Đại ngay tại cửa và lên tiếng hỏi: “Xe bị sao vậy?”. Đại trả lời một cách đầy ẩn ý, hình như biết được đây là chuyến đi cuối cùng của mình: “Xe tôi chạy niềng với vỏ không à, không có ruột đâu”. Loan nghe vậy chỉ nhếch mép cười thâm hiểm. Khi bước chân lên tàu đi ra trại ở Phú Quốc, Đại còn quay lại đấm thượng sĩ Giàu một quả vào mặt khiến Giàu dập sống mũi máu me dàn dụa chỉ vì hắn nghe loáng thoáng người này nói một câu gì đó không lọt tai.

Trong đợt tổng động viên du đãng năm 1966, ngoài Đại Cathay còn có một số giang hồ cộm cán như Bảy Si (anh vợ Năm Cam sau này), Lâm Chín Ngón, Hải Súng… Sau khi Đại bị bắt, vợ của hắn biết chồng đi lần này không biết bao giờ trở lại nên đã treo giải 1 triệu đồng sau đó nâng lên 1,5 triệu nếu ai đưa được Đại về lại Sài Gòn. Món hời này đã được đại tá Long – một sĩ quan thuộc lực lượng Hải quân chỉ huy tàu tuần lưu nhận giúp đỡ.

Tuy nhiên sau đó không biết do có sự sắp đặt từ trước hay vô tình mà giữa Đại và Bảy si đã xảy ra hiềm khích. Đúng vào đêm Đại và nhóm đàn em tổ chức vượt ngục theo kế hoạch, đại tá Long đã cho tàu đợi sẵn bên ngoài. Những tưởng kế hoạch rất hoàn hảo nhưng khi Đại và đàn em chui ra khỏi hàng rào thì bất ngờ lính cảnh vệ ập đến, pháo hỏa châu bắn sáng rực cả bầu trời. Thấy thế đại tá Long quay tàu đi, Đại Cathay đã thoát ra ngoài nên đành phải cắm đầu chạy. Sẵn có một chiếc xuồng ba lá gần đó, Đại và Hải Súng đã nhảy xuống giật nổ máy sang đảo Đông Dương – nay là thị trấn Đông Dương. Sau đó người thì nói Đại mất tích, người thì nói vượt biên và cũng có người cho rằng Đại đã bị bắn chết. Những giai thoại về Đại Cathay – ông trùm của các ông trùm giang hồ chấm dứt.

***

Giang hồ Sơn “đảo” bị giết như thế nào?

  

Đại lộ Nguyễn Huệ và thiếu nữ Sài Gòn ngày xưa

                Các đại ca giang hồ muốn thể hiện “số má” của mình không chỉ bằng tiền, quyền lực, “địa bàn phủ sóng” mà còn cả gái đẹp. Vụ án Sơn “đảo” – trùm giang hồ và hoạt động sòng bạc khét tiếng tại Q.Tân Bình có quan hệ “mật thiết” với sư đoàn Dù của ngụy quyền Sài Gòn đã bị giết bởi một gã du đãng tàn tật ngay trước vũ trường Crystal đã nói lên bộ mặt xã hội lúc bấy giờ.

Sơn “đảo” tên thật là Vũ Đình Khánh vốn là một du đãng từ Hà Nội di cư vào Sài Gòn từ trước những năm 1960. Ngay từ nhỏ hắn đã thể hiện sự ngang tàng của mình qua các vụ đánh lộn và cướp bóc. Sau khi tướng “râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ lên nắm giữ chức vụ lãnh đạo Ủy ban hành pháp trung ương ngụy, ông ta đã chủ trương “bài trừ du đãng” và lập ra đội quân “đặc quyền” chuyên hoạt động trong lĩnh vực này. Sơn bị bắt trong một lần quỵt tiền taxi tại Q1 và bị đưa ra tòa xét xử tuyên án 5 năm tù tại Côn Đảo.

Những tưởng bản án này “cải tạo” được Sơn nhưng không ngờ tại đây, hắn đã trở thành “đại bàng”, gây dựng thanh thế trong giới tội phạm. Và cũng giống như Đại Cathay, Sơn cũng được gắn tên vùng đất thành danh của mình là Sơn “đảo” từ ngày đó. Sau khi về Sài Gòn, bằng những mánh khóe học được trong tù Sơn đã len lỏi gia nhập vào sư đoàn Dù “quý tộc” của ngụy quyền. Hắn tập thể hình khiến cho cơ thể phần trên rất bệ vệ, ngực nở phồng to tướng khiến hai tay như không thể khép sát vào nách, tuy nhiên hai chân thì bé tí tẹo. Khi về Sài Gòn, hắn mở sòng bạc tại Tân Bình và nghiễm nhiên trở thành ông trùm trong giới đỏ đen. Sơn thường xuyên sử dụng xe phân khối lớn và kè kè bên mình lúc nào cũng có trung tá Đường của sư đoàn Dù.

Thời điểm bấy giờ, họ hàng quan chức của các tướng lĩnh Sài Gòn ra sức cấu kết với các băng nhóm giang hồ để làm giàu. Chúng xây các tòa nhà cho các băng đảng giang hồ thuê để mở vũ trường, sàn nhảy thoát y, sòng bạc và kể cả việc buôn bán ma túy. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có một người em vợ được giới giang hồ gọi là “cậu Mười”. Dựa hơi anh rể là tổng thống, chị gái là “đệ nhất phu nhân” của Việt Nam Cộng hòa, cậu Mười đã bất chấp pháp luật mở rộng giao du với đám giang hồ. Các “đại ca” lúc bấy giờ được làm ăn với cậu cũng là vinh dự và an toàn bởi đã có cái “dù” rất lớn che chở. Khoảng cuối năm 1973, cậu Mười xây dựng một tòa nhà 5 tầng trên đường Trương Minh Ký để cho các đại ca giang hồ thuê mở sòng bạc, vũ trường.

Vào một buổi sáng, Y “cà lết” tức là Phạm Bá Y – một tay giang hồ bị thọt chân đi cà nhắc chuyên “thâm canh” ma túy tại khu vực sau Bệnh viện Từ Dũ, chở trên xe hơi một cô gái tên Trang – vũ nữ của vũ trường Barcaras (Trang là vợ giang hồ Lộc điên, lúc này Lộc đang thụ án tù vì buôn ma túy) đến gặp cậu Mười để xin thuê một tầng lầu làm điểm kinh doanh. Duy chỉ có lầu 3 còn trống nên cậu Mười đồng ý cho Y thuê lại tầng này. Khi cả Y và Trang chuẩn bị ra về thì một chiếc xe phân khối lớn lao đến, trên xe không ai khác đó là Sơn “đảo” và chở sau lưng là thiếu tá Đường. Khi thấy Sơn, Trang liền vồ tới ôm vai gọi liên tiếp anh Sơn (Trang cũng là bồ nhí của Sơn). Sơn vừa ôm Trang vừa gọi cậu Mười xuống hỏi thuê phòng làm điểm kinh doanh sòng bạc.

Vốn không ưa gì Sơn nên cậu Mười nói chỉ còn lầu 3 trống nhưng em nói muộn quá nên vừa cho thằng Y “cà lết” mướn rồi. Sơn đảo mắt xung quanh thì thấy Y đang ngồi trong xe hơi, Sơn hỏi Trang: “Em đi với hắn à”, Trang gật đầu. Sơn tiến tại phía cửa xe đánh Y hai tát vào mặt làm Y rơi kiếng. Y ngước lên hỏi: “Tại sao anh đánh tôi”. Sơn tiếp tục hỏi “mày biết tao là ai không?”, Y trả lời “biết”. Sơn tiếp tục: “Biết sao không chào? Tao đánh mày vì tội biết mà không chào”. Y gằn giọng: “Chào hay không là quyền của tao, nhưng mày nên nhớ cái tát này nhé”. Nói dứt lời, Y gọi Trang rồi khoát tay chào mọi người, cả hai lên xe biến mất. Tưởng rằng sự việc bình thường nhưng Y đã rắp tâm trả thù. Sau vụ việc hôm đó, Y không thuê sòng bài nữa mà dẫn theo một số đàn em thân tín lên Đà Lạt. Hắn yêu cầu chủ khách sạn cho mượn phòng ba tháng. Dù không ở nhưng hắn vẫn trả tiền đủ và yêu cầu chủ khách sạn ghi tên lưu trú của hắn tại đây suốt ba tháng trời. Sau đó Y âm thầm quay lại Sài Gòn tìm cách giết Sơn trả thù.

Vào một ngày cuối tháng 1-1975, Y phát hiện Sơn cùng đám sĩ quan Dù đang ăn chơi nhảy múa tại vũ trường Crystal trên đường Lê Lợi. Y “cà lết” bố trí đàn em chở mình bằng xe máy với khẩu Colt 45 thủ trong người. Hậu thuẫn phía sau cho hắn là chiếc xe hơi chở bọn đàn em thiện chiến được trang bị hỏa lực mạnh, phòng xa nếu lính Dù ra tay can thiệp thì phải có sự yểm trợ khi rút lui. Sau khi nắm rõ tình hình, Y thuê một đứa trẻ đánh giày ngay trước cửa vũ trường với giá 10 đồng để xì hơi bánh xe của Sơn đang để trước cửa, sau đó hắn trốn vào gốc cây bên đường nơi có điểm vá xe phục sẵn. Trong ánh đèn leo lét trên đường Lê Lợi lúc nửa đêm, Sơn “đảo” cùng thiếu tá Đường vãn cuộc loạng choạng ra về nhưng phát hiện bánh bị hết hơi nên dắt sang điểm vá xe bên kia đường kiểm tra.

Đúng như kế hoạch của Y, khi Sơn cúi xuống nhìn bánh xe thì ngay lập tức từ phía sau hốc cây phát ra một tiếng quát: “Sơn đảo”. Sơn ngước nhìn lên, bất ngờ một tiếng nổ đanh thép vang lên. Mùi thuốc súng khét lẹt, viên đạn găm vào vai khiến Sơn ngã xuống. Y “cà lết” gằn giong: “Mày có nhớ tao không Sơn?”. Sơn bị thương rất nặng nhưng vẫn nhận ra đó là Y “cà lết”. Sơn thều thào: “không lẽ vì chuyện nhỏ vậy mà mày bắn tao hả Y? Y “cà lết” lạnh lùng: “Tao đã nói trước với mày rồi, vì cái tát đó nên mày phải chết”. Nói dứt lời, Y nã tiếp hai phát đạn vào bụng Sơn rồi lên xe máy đàn em chờ sẵn rú ga bỏ chạy. Sự việc diễn ra quá bất ngờ khiến thiếu tá Đường mặc dù có súng lăm lăm bên người nhưng không dám rút ra mà bỏ chạy theo hướng khác. Sơn “đảo” được mọi người đưa đến bệnh viện cấp cứu nhưng đã chết sau đó hai tiếng đồng hồ. Thời điểm bấy giờ có giả thiết cho rằng nguyên nhân vụ án mạng trên là do Sơn lấn lãnh địa vào Cây da Xà của Bảy Diệm nên bị trùm giang hồ này giết. Về phần Y “cà lết” sau giải phóng đã bị kết án tử hình vì phạm tội cướp của giết người trong nhiều vụ án khác. Trước khi ra pháp trường, Phạm Bá Y cũng đã thừa nhận Sơn “đảo” do chính y bắn chết để trả thù cho cái tát trước nhà cậu Mười trên đường Trương Minh Ký năm xưa.

***

Dấu chấm hết cho giang hồ Sài Gòn

Võ sư Ngô Văn Hương

Các băng đảng giang hồ Sài Gòn những năm 1975 đã bắt đầu tan rã cùng với sự biến mất của các tướng lĩnh.

Cuộc tổng tiến công giải phóng miền Nam mùa xuân năm 1975 đánh dấu mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Đất nước bước sang trang mới, người dân miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng từ đây được hưởng cuộc sống hòa bình, hạnh phúc. Theo chân các tướng lĩnh chế độ cũ, các băng đảng giang hồ cũng tan rã. Tuy nhiên, sự mục ruỗng của bối cảnh xã hội trước 1975 đã để lại hậu quả thật nặng nề mà phải mất một thời gian khá dài chúng ta mới nhổ tận gốc rễ những tàn dư tội phạm đó.

Sự mất tích bí ẩn của Đại Cathay tại Phú Quốc đã đưa giới giang hồ đất Sài thành vào hoàn cảnh “rắn không đầu”. Không có Trần Đại đồng nghĩa với các băng nhóm giang hồ người Hoa khu vực chợ Lớn như Tín Mã Nàm, Hải Phùng Kim bắt đầu tìm lại ảnh hưởng và chiếm lĩnh thị phần của mình.

Nhưng do lòng tham, “con ngựa điên” đã dần dần bị thu phục trở thành tay chân của một số tướng lĩnh ngụy quyền nên đã bị nhiều đàn em thân tín bất mãn, tìm cách “làm ăn riêng” và sau đó trở thành đối thủ của hắn. Sau ngày giải phóng, Tín Mã Nàm vẫn muốn “bành trướng” thế lực, củng cố vị thế giang hồ số 1 trong giới người Hoa ở khu vực Q5 nhưng rồi hắn đã bị lực lượng CSHS CATPHCM triệt phá sau khi gây án tại Cây Da Sà. Nói về chế độ cũ, với bản chất mục ruỗng và thối nát, các tướng lĩnh ngụy quyền lúc bấy giờ xem mạng người như cỏ rác. Cà Na, du côn Tân Định một thời, sau này thành võ sĩ Huỳnh Sơn do đánh đấm quậy phá nên cũng bị tập trung về trại tế bần ở cầu chữ Y, Q8. Trong một lần định trốn chạy, hắn đã bị bắn, mang theo vết thương nhảy qua khỏi tường rào. Do mất nhiều máu nên Cà Na chết dưới ao bèo sau trại tế bần. Đám quản lý trại cứ ngỡ rằng mặc dù bị trúng đạn nhưng hắn đã chạy thoát nên không tìm kiếm. Ba ngày sau, một người đàn ông đi vớt bèo phát hiện thi thể Cà Na với vết thương giữa ngực.

Y “cà lết” sau vụ trả thù tình với Sơn “đảo” khiến tiếng tăm vang xa nhưng cũng bị tử hình vì tội cướp của giết người… Sau giải phóng, hầu hết các băng nhóm giang hồ lần lượt tan rã. Riêng Chà Và Hương, nỗi đau không phải là thiếu tiền, mất cơ hội làm ăn mà chính là thất lạc vợ. Hương buồn bã, sống ẩn dật tại Q3 rồi sau đó về ở với mẹ già ở Hóc Môn hành nghề dạy võ. Sau khi mẹ mất, Hương chuyển đến Củ Chi hành nghề bốc thuốc, châm cứu và được mời làm cố vấn võ thuật cho Liên đoàn võ thuật cổ truyền TPHCM.

Gặp chúng tôi vào những ngày đầu năm 2011, tuy đã ngoài tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng ông vẫn có sự quắc thước, nhanh nhẹn của một người suốt đời theo nghề võ. Kể về chuyện đời của mình, lão võ sư này cho biết sau năm 1975, người dân Sài Gòn lần đầu tiên được tận hưởng cuộc sống ổn định về chính trị, an toàn về tính mạng bởi các băng nhóm giang hồ phần nhiều đã tan rã. Sống mà không sợ phải trốn lính, tù đày, thanh toán lẫn nhau. Một số đại ca giang hồ góp phần tạo nên bầu không khí ngột ngạt thời đó như: Hải Phụng Kim chết sau cải tạo do bệnh áp huyết cao, Ba Thế thì mất tích sau ngày giải phóng, Ngô Văn Cái sa cơ thất thế sống tạm bợ lề đường rồi sau đó cũng chết. Minh “cầu muối” chết năm 1999… Còn những đám “giang hồ nửa mùa” thì lợi dụng đao mác để bám gót tướng lĩnh như Bình “đen”, Bình “nhái”.

Bình “nhái” là cận vệ của Hoàng Đức Nhã – cháu họ của Nguyễn Văn Thiệu. Lợi dụng người thân làm tổng thống, Nhã chẳng khác gì một “cò chính trị”, hắn đã có lần đứng trước thượng viện chửi bới um sùm mà chẳng ai dám lên tiếng. Biết sẽ thất bại, Nhã theo gót chủ bỏ chạy sang Mỹ, trước khi đi, Hoàng Đức Nhã không những mang theo Bình “nhái” còn kéo theo một đối tượng tên Nghĩa – chủ một nhà máy sản xuất kem đánh răng ở Q. Bình Thạnh để “lợi dụng kinh tài trụ lại đất khách quê người”.

Còn đối với Chà Và Hương, sau khi lấy vợ, bà Tôn Nữ Thị Yên còn quá trẻ nên không chịu sinh con. Bà nhận một đứa trẻ lai gốc Mỹ làm con nuôi và về sống bên nhà bố me, còn Hương bôn ba với cuộc sống giang hồ ở Sài Gòn. Trước năm 1975, tình hình xã hội hỗn độn phức tạp nên một thời gian sau thì hai người thất lạc nhau. Sự thất lạc này một phần cũng do những người thân trong gia đình bà Yên tạo nên khi lên kế hoạch để bà sang Mỹ nhằm tách bà với người chồng giang hồ cộm cán này.

Sau giải phóng, Hương lặn lội nhiều lần về quê tìm vợ nhưng chỉ nhận được câu trả lời “vợ mày đi Mỹ mấy năm nay và mất tin tức không thể liên lạc được”. Bên cạnh đó họ lại thông báo cho bà Yên biết Chà Và Hương đã bị chết trong cơn loạn lạc. Buồn bã vì mất vợ, Hương sống lang thang, nhận dạy võ cho một số “cậu ấm, cô chiêu” để kiếm sống qua ngày. Hơn 30 năm sau, cũng thật tình cờ trong một lần trị bệnh cho con trai một người em bên nhà vợ, Hương để lại địa chỉ của mình và may mắn người này đã tiết lộ thông tin về việc Hương còn sống cho bà Yên biết. Vậy là cuộc trùng phùng diễn ra đầu năm 2005, bà Yên từ Mỹ về Việt Nam để tìm lại chồng. Hai người gặp lại nhau vui mừng khôn xiết. Khúc “đoạn trường” hơn 30 năm thất lạc đã khiến ông già 70 tuổi khóc như đứa trẻ.

Kể từ đó đến nay, cứ mỗi năm họ lại đoàn tụ hai tháng bởi bà Yên bây giờ đang làm công việc buôn bán ở bang Kentucky – Mỹ. Ông Hương tâm sự: “Cuộc sống bây giờ thật hạnh phúc, tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ có được ngày hôm nay. Ngày xưa là giang hồ đâm chém nay sống mai chết không ai lường trước được, thậm chí những ngày cuối đời phải chết trên vỉa hè, lề đường thật xót xa. Có thể nói, giang hồ ngày đó dựa vào bản chất chế độ để sống nên khi chế độ tan rã thì vấn đề diệt vong cũng là hệ quả tất yếu. Sống trong thời đại hòa bình hiện nay mới cảm nhận được hết giá trị của con người”.

***

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: